Camus par Vargas Llosa



Albert Camus và đạo đức học của những giới hạn


Hai mươi năm trước đây, Albert Camus là một tác giả thời thượng; những kịch phẩm, tiểu luận và tiểu thuyết của ông giúp những người trẻ tuổi, sống. Vào lúc đó, bị ảnh hưởng Sartre, say mê những tư tưởng của ông ta, tôi đọc Camus mới ngán ngẩm làm sao, và nhiều khi còn bực bội về cái gọi là chất trữ tình làm ra vẻ trí thức của ông!
Sau đó, khi tác phẩm di cảo của ông, Sổ Ghi [Notebooks], được xb, vào năm 1962 và 1964, tôi bèn đi vài đường tạp ghi, bằng một giọng văn tầm phào, bố lếu bố láo, phiến diện, tôi chụp cho cái xác của ông một cái nón mầu ‘xám chưa đủ xám’[a ‘premature greyness’]. Dựa vào thái độ của ông trước thảm kịch Algeria - một vị trí mà tôi thật sự chẳng hiểu cái chó gì, hò theo những kẻ thù, đối thủ của ông, không chịu đọc thẳng ông, tôi tự cho phép mình vẽ ra một hình ảnh tiếu lâm về ông, một kẻ công chính, một ông bình vôi, the lay saint, mà những đệ tử của ông để lên bệ thờ và cứ thế xì xụp!
Tôi đếch thèm đọc ông, cho mãi tới mấy tháng trước đây, may mắn làm sao, trong khi theo dõi một vụ khủng bố tấn công ở Lima [ở Sài Gòn, do tay khủng bố VC nằm vùng DH, cũng một đệ tử của ông, thực hiện! Hà, hà!]… . tôi lại mở ra Kẻ Nổi Loạn, một tiểu luận của ông về bạo động trong lịch sử mà tôi đã quên mẹ nó từ lâu (hay, chẳng bao giờ hiểu được).
Ui chao, đúng là một mặc khải.
Cú tìm tòi, nghiên cứu của ông về những nguồn gốc triết học của khủng bố, món quà quí báu [đặc sản Nam Bộ của đám VC nằm vùng đem đến cho dân Miền Nam, trong có Gấu, đã từng xơi hai trái mìn cờ lê mo của DH hoặc bạn của ông!] của lịch sử đương thời, làm cho tôi kinh ngạc đến mất hết cả hồn vía, vì cái sự sáng suốt, cái sự xác đáng nóng bỏng của nó, cùng với nó là những câu trả lời cho những hồ nghi và sợ hãi mà tôi cảm thấy, về thực tại đất nước tôi. Tôi sướng điên lên, khi khám phá ra rằng, một số những nan đề về chính trị, lịch sử và văn hóa, của riêng tôi, sau bao nhiêu lần vấp ngã, sa sẩy, té lên té xuống, sau cùng đã đi đến những kết luận, những giải đáp y chang của ông Camus!
Trong mấy tháng sau đó, do tôi cứ thế đọc đi đọc lại ông, sau bao bất đồng không thể tránh khỏi, cuối cùng tôi thấm đòn, gật gà gật gù chịu ông, và biết ơn ông.
Sau đây, tôi sẽ đi vài đường, về cái hình ảnh mới mẻ mà tôi nhìn ra ở nơi ông.
Để hiểu tác giả Kẻ Xa Lạ, thì chớ bao giờ quên ba món đặc sản, đúng ra phải nói, ba cái cù lần của ông: một kẻ miệt vườn, một tên ven biên, và một gã thuộc cộng đồng thiểu số, a provincial, a man of the frontier, and a member of a minority. Cả ba món này, theo tôi, đã góp phần tạo nên cách cảm, cách viết và cách nghĩ của ông.
Camus là một gã miệt vườn theo đúng nghĩa thật nghiêm ngặt của cái từ này, vì ông sinh ra, được dậy dỗ và trưởng thành ở một nơi thật quá xa thành phố, khu thị tứ, chốn phồn hoa, ở một nơi thật xa nước Pháp: Algeria, Bắc Phi. Khi ông dời hộ khẩu thường trú vào Paris, ông vào lúc đó là đúng cái tuổi Cụ Khổng gọi là tam thập nhi lập, Llosa viết, yếu tính mà nói, thì ông đã là cái mà ông sẽ là suốt cuộc đời còn lại sau đó, he was already in essence what he would be for the rest of his life.
Với tất cả những sự kính trọng, chúng ta có thể phán, Camus là một anh chàng nhà quê, cù lần, miệt vườn, theo nghĩa tốt nhất, và tệ nhất của những cái nón này!
Thứ nhất, bởi vì, không như mấy thằng cha sống ở những thành phố lớn, ông sống trong một thế giới mà ‘quang cảnh quê ta’ thì luôn luôn tràn trề, chỉ có nó, và nó mới quyến rũ, mới quan trọng làm sao, làm sao xi măng, cát vữa, nhựa đường… so với nó cho được! Cái tình yêu thiên nhiên của Camus thì thường trực ở trong tác phẩm của ông. Trong những tác phẩm đầu tay – Beteween Yes and No [Giữa Ừ và Không Ừ], Noces [Hôn Lễ, Trần Thiện Đạo, trên báo Văn ngày nào dịch là Giao Cảm, nếu Gấu nhớ không lầm], Mùa Hè, Minotaure ou halte d’Oran [The Minotaur or the Shop in Oran] - mặt trời, biển, cây cối, hoa lá, đất cứng, và những đụn cát nóng bỏng của Algeria là chất liệu thô, nguyên, ròng, sẵn sàng chờ được miêu tả, và mở ra suy tưởng.
Chúng là những điểm qui chiếu bắt buộc của tiểu luận gia trẻ tuổi, khi ông toan tính định nghĩa cái đẹp, nâng bi cuộc sống, hay lèm bèm về ‘ngứa quá, ngứa quá’ [thiên hướng nghệ thuật, artistic vocation]. Cái đẹp, cuộc đời, nghệ thuật, chúng đan dệt vào với nhau, ở trong những bản văn ngắn ngủi, chau chuốt, tẩn mẩn này, và biến thành một thứ tôn giáo tự nhiên, a sort of natural religion, một sự hợp nhất thật bí ẩn với đất, với đá, với những thành phần thiên nhiên [Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau, là cũng theo nghĩa này], một sự thánh hoá thiên nhiên khiến tôi [Llosa] nhớ tới José Maria Arguedas, trong những cuốn tiểu thuyết của tác giả này cũng xẩy ra tình trạng tương tự.
Ở trong những tác phẩm sau này của Camus, phong cảnh – và trên tất cả, phong cảnh quê ta, miền đất thiên đàng Địa Trung Hải của ông - vưỡn hiện diện, thường như là, một ham muốn tàn khốc, an atrocious desire, hay một hoài nhớ khủng khiếp, đến trở thành khốn khổ, khốn nạn, rất ư là hơi bị thảm hại [y chang Gấu, những ngày sắp lìa đời!], a terrible nostalgia: Marthe và bà mẹ của cô, những tên trộm cướp và những tên sát nhân trong Ngộ Nhận, làm thịt du khách trong quán trọ, để có một ngày, có đủ vốn liếng, tậu được một căn nhà bên bờ biển. 
[Ui chao, chẳng lẽ đây là giấc đại mộng của những anh nhà quê Bắc Kít, những anh Cu Sài, xẻ dọc Trường Sơn, hy vọng vô được nước Xề Gòn, kiếm tí chiến lợi phẩm, về làng cũ, xây cái nhà gạch nho nhỏ, sửa sang phần mộ cho ông cụ, cưới một em ở Xóm Đoài, Xứ Đoài mây trắng lắm?], và cái anh chàng Tướng Về Hưu, Jean Baptiste Clemence, sau khi xây dựng xong Địa Ngục, bèn đi vào miền Sa Đọa, The Fall, tên một tác phẩm của Camus, sám hối, và trong một khoảnh khắc trầm thống, rống lên như một con quỉ, Quỉ Bắc Kít, trong một cuộc độc thoại nội tâm:
“Ôi, mặt trời Bắc Kịt, ôi bãi biển Đồ Sơn, ôi những hòn đảo Hạ Long của những trận gió thương mại, ôi những hồi ức của thuở thanh niên, chúng mới làm cho đám Bắc Kít chúng ta chán chường làm sao!”
[‘Oh, sun, beaches, islands of trade winds, memories of youth that make us despair’].
Ở Camus, cái đẹp và cái ấm mà con người được thừa hưởng từ thiên nhiên không chỉ thỏa mãn nỗi thèm khát của cơ thể, mà còn là một thứ thánh dược thanh tẩy tâm hồn!

Suốt cuộc đời, Camus luôn tỏ ra trung thành với niềm tin, rằng con người phải hoàn chỉnh trọn vẹn chính mình, sống trọn với bản chất của mình, khi mình tương hợp với thế giới tự nhiên, khi cuộc ly dị giữa nó và thế giới tự nhiên sẽ cắt manh mún cuộc hiện hữu nhân sinh của nó. Có lẽ, đây là niềm tin, kinh nghiệm của một người lớn lên không nương tay nhờ sỏi, đá, bụi bặm, giọt mưa, sợi nắng, và, nó tách Camus ra khỏi cái đám đông khốn kiếp ở thành phố, ở Paris, và hơn thế nữa, tách ông ra khỏi cả một tầng lớp trí thức cùng thế hệ với ông. Tất cả lũ, nào Mác Xịt, nào Ky Tô, nào tự do, nào hiện sinh, đều có một điểm chung: chúng đều thần tượng hoá lịch sử. Sartre và Merleau-Ponty, Raymond Aron và Roger Garaudy, Emmanuel Mounier và Henri Lefebvre, ít ra đều đồng ý về một điểm: rằng con người là một con người xã hội, và, để hiểu nỗi khốn cùng, những khổ đau của nó, và đề ra giải pháp cho vấn đề của con người, việc đó chỉ thế xẩy ra, ở trong cái khung lịch sử. Kẻ thù ở bất cứ đâu đâu, ở bất cứ điều gì khác, nhưng đám này đều chia sẻ với nhau một giáo điều rộng lớn nhất trong mọi giáo điều của thời đại chúng ta: rằng lịch sử là chìa khóa cho câu hỏi nhân sinh [that history is the key to the human question], là nơi chốn, môi trường, ở đó, trọn số phận của con người được quyết định.
Camus không bao giờ chấp nhận cái sắc lệnh hiện đại này. Không hề chối bỏ chiều hướng lịch sử của con người, ông luôn luôn tin rằng, giải thích số phận con người hoàn toàn bằng kinh tế, xã hội hay ý thức hệ, là không đầy đủ, và trên đường dài, nguy hiểm. Trong Mùa Hè, 1948, ông viết: “Lịch sử chẳng hề giải thích vũ trụ tự nhiên, có trước nó, cũng như cái đẹp, ở trên nó”. Cũng trong bài tiểu luận, ông phản đối sự lãnh đạo của những đô thị, vì nó a tòng [associated: kết hợp] với tính tuyệt đối của lịch sử, và sau này, trong Kẻ Nổi Loạn, ông coi đây là những nguồn gốc đưa đến bi kịch chính trị hiện đại, thời của những chế độ độc tài, chúng tóm lấy [take] những đòi hỏi lịch sử, như là biện minh triết học của chúng.
Ngược hẳn con người thành thị mà những tư tưởng gia hiện đại coi chỉ là một thứ sản phẩm lịch sử, mà những ý thức hệ lột sạch máu thịt; con người trừu tượng, đô thị này, bị tách ra khỏi đất đá và mặt trời, chẳng còn tí cá nhân cá nhiếc gì hết, non-individualized, không còn đồng nhất với gốc gác miệt vườn, với cánh đồng bất tận [đất đá, mặt trời, sông nước, con người… là một], con người đó biến thành một quần đảo của những phạm trù tinh thần, Camus nói về con người tự nhiên, được nối kết với thế giới của những phần tử như đất, như đá, như sông, như nước… rất hãnh diện, tự hào về cái vẻ rắn chắc của cơ thể của mình, yêu cơ thể, thân xác của mình và cố gắng thoả mãn nó, làm cho nó hài lòng, con người tự nhiên này nhận ra một điều, sự hài hòa giữa khung cảnh và vật chất [matter], thì không chỉ là sự viên mãn của lạc thú, và còn là sự xác nhận tầm lớn lao vĩ đại của con người. Của anh ta. Con người này, thì elemental [có tính phần tử, nguyên tố…] không chỉ vì những lạc thú của anh ta đơn giản, và trực tiếp, mà còn vì, anh ta thiếu [lack] sự gọt rũa cho thành đẹp của xã hội [social refinement], thiếu trò ma mãnh, nghĩa là, anh ta chẳng kính trọng qui ước, mù tịt về thất vọng, chán chường, và tình tiết [intrigue], mù tịt về cái gọi là tinh thần thích ứng, gia nhập, [hội đoàn hội điệc, cộng đồng, cộng điếc, thua, đếch có tớ!], và lại càng chẳng có tí tham vọng quyền lực, vinh quang, và của cải tiền bạc!
Đó là những điều mà anh ta không thể khinh miệt, bởi vì đếch biết đến chúng! Những đức tính, hạnh kiểm của anh ta, là sự thẳng thắn, giản dị, hơi bị tỏ ra thích, một cuộc sống X-pác-tơ [a Spartan life], những đức hạnh như thế, theo truyền thống mà nói, hầu hết kết hợp với cuộc sống nhà quê, thôn dã, tỉnh nhỏ, và nói một cách khác, với thế giới tà giáo, a pagan world. Chuyện gì xẩy ra khi một ông nhà quê, cù lần, một con người của thiên nhiên, như thế, nổi hứng lên, đòi cho hắn ta cái quyền, có cái phần của mình, ở trong một thành phố? Một thảm kịch: Thành phố sẽ tóm lấy, bóp nghẹt, đè nát, hủy diệt anh ta. Đây là đề tài của cuốn tiểu thuyết đẹp nhất, bảnh nhất của Camus: Kẻ Xa Lạ, The Outsider.

Từ lâu nay, người ta cứ lải nhải, lập đi lập lại, đây là một cuốn tiếu thuyết về bất công trên thế gian, injustice in the world, và, trong cuộc sống, in life, một minh họa văn học về triết học của sự phi lý mà Camus cố gắng miêu tả trong Huyền thoại Sisyphe. Bây gờ đọc, nó xuất hiện, trên tất cả, như là một tranh luận, argument, chống lại sự độc tài của qui ước và dối trá, mà cuộc sống xã hội dựa trên đó. Meursault, một cách nào đó, là một kẻ tử đạo sự thực, a martyr to truth. Điều dẫn tới cầm tù, kết án, và sau cùng, xử tử anh, là sự ‘không thể mang tính bản thể’, his ontological inability, để che đậy những cảm nghĩ của mình, để làm điều người khác làm: chơi cuộc chơi, play a part. Thật là vô phương, đối với anh ta, thí dụ, làm ra vẻ quá đau đớn khi dự đám tang của mẹ mình; anh ta cũng đau, chắc hẳn, nhưng không thể ‘làm ra vẻ’ quá đau, hay thốt ra những lời lẽ đúng qui ước của xã hội. Anh ta cũng không thể bầy ra, trước ông toà, sự ăn năn, sám hối, vì tội giết người, như là ông toà và mọi người đòi hỏi. Anh ta bị trừng phạt vì những điều này, chứ không phải vì tội ác mà anh ta phạm.
Từ một điểm đứng khác, có thể coi, cuốn tiểu thuyết là một tuyên ngôn, coi đời sống thì bảnh, không có gì quí hơn nó, so với mọi thứ khác, a declaration in favor of the superiority of this life above any other. Meursault – con người nhân tố, the elemental man – thì có học, ăn nói gọn gàng, vừa đủ, cư xử hòa nhã (cái tội ác của anh ta, thực sự ra mà nói, nó đúng là một thứ công việc của sự tình cờ, a work of chance], và anh ta chỉ mất tự chủ, và trở thành khó chịu, cáu kỉnh, khi mọi người nói với anh ta về Thượng Đế, khi một người nào đó – như ông tòa, hay vị thầy tu nhà tù - từ chối không kính trọng niềm tin vô thần của anh ta, his atheism (đúng hơn, niềm tin tà giáo của anh ta, his paganism), cùng một đường hướng, như là anh ta kính trọng niềm tin của những người khác.
Những thái độ tra hỏi theo kiểu giáo lý, bè phái, trấn áp… làm anh ta bực, ‘lại đâm bực’. Tại sao? Bởi vì tất cả, mọi thứ mà anh ta yêu, và hiểu, thì tràn đầy ra đấy, bầy ra trước mắt: biển cả, mặt trời, những buổi hoàng hôn,  làn da mịn màng, trẻ măng, thơm như múi mít của em Maria [the young flesh of Maria]. Với cùng một vẻ dửng dưng thú vật mà với nó, anh ta trau giồi, gặt hái những cảm quan của mình, Meursault nói lên sự thực: điều này khiến những người chung quanh anh nghĩ anh là một con quái vật. Bởi vì sự thực, cái sự thực tự nhiên thoát ra khỏi miệng của anh ta, thì cũng giống như mồi hôi toát ra từ làn da của Maria, và cái đó thì thật là kỳ kỳ với ba trò thuần lý làm nên cuộc sống xã hội, cộng đồng con người trong lịch sử.
Meursault, trong rất nhiều đường hướng, là một hóa thân, an alter ego, của Camus: ông cũng yêu cuộc đời này một cách hăm hở, cuồng nhiệt, tới chỉ, như những kẻ thần bí yêu một thế giới khác, [khác cái thế giới của chúng ta, hẳn thế!], ông cũng có cái thói xấu, là nói ra sự thực, và ông cũng là người, nhân danh sự thực – trên tất cả, trong chính trị - không ngần ngại lăng mạ những qui ước của thời của ông. Chỉ một người "kẻ ở miền xa" [tên một bản nhạc sến], không quen với những show trình diễn [như trên eVăn] những mẫu mã, những hàng độc mới ra lò [last fashions], tỉnh bơ trước trò đểu cáng, nô dịch của thành phố, như Camus, thì mới có thể, ở trên đỉnh cao của niềm tin vào hệ thống, bảo vệ luận đề, rằng, những ý thức hệ, chạy trời không khỏi nắng, chỉ đưa đến nô lệ và tội ác, [Không biết Llosa muốn nói nhắc tới một câu mà Gấu, đọc, mê quá, bèn chôm liền, đưa vào bài viết về… Võ Phiến, nhà văn Bình Định: Những con đường đưa cá nhân đến tội ác / đưa xã hội đến cách mạng, là như nhau. Camus, Thèse sur Dostoevsky: Les mêmes chemins qui mènent l’individu au crime mènent la société à la révolution)], và khẳng định, đạo đức là một đòi hỏi cao, chính trị phải cúi đầu trước nó. Ông còn muốn trở thành nhà vô địch, ở trong hai môn chơi, mà thiên hạ hồi đó, chỉ nội nghe nhắc đến tên, là đã bật cười một cách khả ố: Tự Do, và Cái Đẹp.
Văn phong của Camus thì có vẻ lạc thời, lỗi điệu [anachronic], trang trọng [solemn] và kiểu cách [mannered]. Nó làm chúng ta nhớ tới một trong mấy anh chàng nhà quê, tỉnh lẻ, mỗi sáng Chủ nhật, đánh bóng đôi giầy, diện bộ đồ viá, đi dạo công viên, nghe ban nhạc trình diễn. Văn xuôi của ông chứng tỏ một sự giả bộ thường hằng, a constant affectation, theo một nghĩa đẹp nhất của từ này. Sự trầm trọng, hoàn toàn thiếu vắng tính u mặc [humor], vẻ cứng nhắc của nó, tất cả đều rất ư là mưa đêm tỉnh lẻ, đúng chất sến của đám Mít Nam Bộ chúng ta, trong có Gấu, tất nhiên!
Những câu văn thường là ngắn của Camus được ông chau chuốt, tinh chế, gọt rũa đến tận xương tuỷ, to the essential, và mọi câu như thế thì đều tuyệt hảo như một viên đá quí. Nhưng chuyển động hay tiềm lực của nó, như là một toàn thể, as a whole, thì thường yếu xìu. Đây là một thứ văn phong uy nghi, đẹp như một bức tượng, và - ngoại trừ tính hàm súc, và sự hiệu quả mà qua nó, một ý tưởng được biểu tỏ – nó có vẻ ngây ngô thế nào ấy, naïf,: đây là thứ văn phong ngột ngạt, cổ lỗ, có mùi hồ [hồ, như trong có bột mới gột nên hồ]. Quả là một nghịch lý, một nhà văn hiện đại, kẻ vinh danh cuộc sống tự nhiên, trực tiếp, với những lập luận quyến rũ nhất, thuyết phục nhất; cũng chính người này, bằng tản văn của mình, lại là một trong những nhà viết văn xuôi ‘nghệ thuật’ nhất, most ‘artistic’, [vừa chạm trổ, gọt rũa, vừa giả tạo, mất hẳn vẻ tự nhiên, artificial] vào bậc thầy của thời của mình.
Ngoài những quan tâm về văn học, cũng còn có những giá trị mà Camus trau giồi và bảo vệ, chúng đã bị lưu vong ra khỏi thành phố: Những giá trị về danh dự, và tình bạn, từ một thế giới của sự cô đơn, và của những con người đểu giả [cynical people]. Đó là những giá trị cá nhân, do định nghĩa, chúng cưỡng lại một quan niệm hoàn toàn có tính xã hội về con người. Ở trong những giá trị này, Camus nhìn ra hai hình thức của cứu chuộc cho thứ chủng loại là giống người, một đường lối để tái phục hồi [regeneratre] xã hội, và một ‘tình người, tình bạn’, thứ ‘bạn quí’, thật hách xì xằng, và thật đặc quyền đặc vị [a superior and privileged type of human relationship].
Camus là một con người của vùng biên cương, ông sinh ra và sống tại một vùng ven căng thẳng, dữ dằn, giữa Âu Châu và Phi Châu, Tây Phương và Hồi Giáo, một xã hội kỹ nghệ hóa và kém mở mang. Kinh nghiệm ngoại vi, ngoại biên này đem đến cho ông, như một gã Âu Châu, một cái nhìn đa dạng, rối rắm [a complex view] về thế giới của riêng ông. Một mặt, ông thấy mình dễ dàng nhập vô văn hóa đó, hơn những kẻ sống ở trung tâm, không thể phán đoán, và đánh giá [appreciate], ý nghĩa của văn hoá mà họ thuộc về nó. Mặt khác, ông cảm thấy mình xốn xang hơn, hục hặc hơn, ngửi ra sự hiểm nguy, và, quan tâm tới sự yếu ớt của hạ tầng cơ sở của xã hội hơn, so một người nào khác.
Tôi không buộc tội Camus, về chủ nghĩa vị chủng tộc của ông, về chuyện ông không màng tới những nền văn hóa còn lại của thế giới, bởi vì ông quá Âu Châu [he was profoundly European] theo một nghĩa phổ cập của từ này. Sự thực là, Âu Châu và những vấn đề của Âu Châu ở trung tâm những tác phẩm của ông, điều này không giảm trừ, nhưng đóng khung, khoanh vùng chúng, trong những giới hạn rõ rệt, chính xác.
Khi Camus để mình vướng vào những vấn đề của Thế Giới Thứ Ba – như những khổ đau của người Kabyles, hay là đàn áp dân thuộc địa tại Madagascar – ông làm như thế trong viễn tượng đại lục, a continental perspective. Ông tố cáo những sự kiện – và đây là lời tố cáo nặng nề nhất mà ông đã từng – làm ô nhục Âu Châu. Âu Châu mà Camus chống đỡ, bảo vệ, một Âu Châu mà ông muốn gìn giữ, làm tăng sinh lực, và dâng hiến, như là một khuôn mẫu cho thế giới, là Âu Châu của một kẻ tà đạo hiện đại, và phía Nam [the Europe of a modern and southern pagan], một kẻ cảm thấy rằng, nó được thừa hưởng và bảo vệ những giá trị thoát thai từ một Hy Lạp cổ đại: Sự thờ phụng cái đẹp nghệ thuật [artistic beauty], và cuộc thoại với thiên nhiên; tiết chế, bao dung, và đa dạng xã hội, social diversity; cân bằng giữa cá nhân và xã hội; một dàn xếp dân chủ, a democratic arrangement, cho cả hai, những yếu tố hữu lý và phi lý, trong cuộc sống, và một sự kính trọng nghiêm ngặt cho tự do. Ky tô giáo và chủ nghĩa Marx bị gạt bỏ [banish], khỏi thế giới không tưởng tương đối này [this relative utopia, chữ của Camus]. Camus luôn chống đối cả hai, bởi vì, theo cách nhìn của ông, cả hai, vì những lý do khác nhau, làm giảm phẩm giá con người.
Nói, Camus là một nhà dân chủ, một gã tự do, một tay cải tổ, thì chẳng đi đến đâu, mà có khi còn phản tác dụng […would not be very useful, rather, it would be counter-productive], bởi vì những quan niệm này – và ở đây, chúng ta phải nhận rằng, là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của những ý thức hệ toàn trị - sẽ đưa đến định nghĩa, về mặt tốt nhất, sự ngây thơ chính trị, và, về mặt tệ nhất, những mặt nạ giả đạo đức của những kẻ phản động và những kẻ bóc lột. Tốt hơn hết, là cố gắng định nghĩa, những quan điểm đó, có nghĩa gì, đối với Camus.
Cơ bản mà nói, Camus thẩy hết cả chủ nghĩa toàn trị vào thùng rác, khi coi nó như là một hệ thống xã hội trong đó con người không còn là một cứu cánh mà chỉ là một dụng cụ. Đạo đức học của những giới hạn là một hoàn cảnh, tình trạng [a state], khi đó, sự đối lập, tương phản, the antagonism, giữa phương tiện và cứu cánh biến mất, ở đó, phương tiện biện minh cứu cánh, chứ không phải ngược lại.
Đề tài - về chủ nghĩa toàn trị, quyền lực toàn trị, những cực điểm của khùng điên, có thể sẽ xẩy ra [to be reached: sẽ đạt tới], khi con người vi phạm [violate: hiếp đáp], đạo đức học của những giới hạn này - đã ám ảnh Camus suốt cuộc đời của ông. Nó là nguồn hứng khởi để ông viết ra ba vở kịch, Caligula, State of Siege, Tình trạng vây hãm, và The Just Assassins, Những kẻ công chính, tiểu luận đẹp nhất, The Rebel, Kẻ nổi loạn, và cuốn tiểu thuyết của ông, The Plague, Dịch hạch. Chỉ cần nhìn vào thực tại hôm nay, là bèn nhận ra rằng, ám ảnh của Camus, về khủng bố quốc gia, độc tài nhà nước hiện đại, đã được chứng nghiệm, justified, và nó mới tiên tri ra làm sao, tới cỡ nào!
Những tác phẩm này, chúng bổ túc cho nhau, miêu tả và giải đáp những khía cạnh khác nhau của cùng một hiện tượng.
[Còn gì chứng nghiệm hơn, tiên tri hơn, là sự kiện, nhà khủng bố VC nằm vùng, DH, một tay cầm cuốn Những kẻ công chính - mà ông ta là một trong những kẻ đó, một tên sát nhân chính trực -, một tay lái xe Honda, túi thủ trái bom, tới trạm gác Ngụy, bỏ cuốn sách của Camus vào giỏ xe phía trước, lấy trái bom ra, liệng vô trạm gác, và tà tà chạy xe tiếp. Ông này chẳng đã từng phán, tớ đọc Camus rồi đi làm cách mạng, đâu có đọc Marx!]
Nhưng thật bất công, khi cho rằng, chủ trương cải tổ, reformism, của Camus, thì cũng như tiếng nói sa mạc, đi biển gọi thầm, trong nỗ lực đòi hỏi tự do chính trị, kính trọng nhân quyền [ở đây, quyền cá nhân, rights of the individual], quên đi rằng, con người còn là nạn nhân của những ‘dịch hạch’ khác, ghê rợn, dữ dằn như đàn áp, oppression, và có khi còn khốc liệt hơn nhiều. Camus biết, bạo lực có nhiều bộ mặt, rằng, nó gây thương tổn, inflict, độc địa nhất, tàn nhẫn nhất, qua đói khát, bóc lột, vô học, ngu si đần độn, ignorance; rằng tự do chính trị, thì là cái chó gì [worth little: có giá tí ti] đối với một người sống trong nghèo đói, không văn hóa, without culture, và làm việc như một con vật. Và ông biết tất cả những điều này, qua kinh nghiệm riêng tư, cá nhân, vì là một thành viên trong một cộng đồng thiểu số, như tôi đã từng nói.
Ông sinh ra, như là một tên chân đen, a pied noir, một trong một triệu người Âu Châu, họp thành một thiểu số đặc quyền giữa bẩy triệu người Ả Rập Algerian. Nhưng cộng đồng thiểu số đặc quyền người Âu Châu này thì không đồng nhất. Có những người giầu có, trung lưu, và nghèo khổ, và Camus thuộc thứ tệ nhất, thấp nhất trong thiểu số này. Cái thế giới của tuổi thơ và tuổi mới lớn của ông thì quá nghèo khổ. Cha ông là một công nhân, và khi ông chết, bà mẹ phải làm nghề đầy tớ. Ông chú, người bảo hộ ông,  người đầu tiên dậy ông đọc, là một tên đồ tể cuồng tín. Ông học hành nhờ học bổng, và khi bị bịnh lao, vô nhà thương thí. Những từ như ‘nghèo đói’, ‘bất lực không làm sao chống đỡ, tự bảo vệ, ‘defenceless’, ‘bóc lột’, đối với ông, không phải là từ những cuốn cẩm nang cách mạng, như mấy tay trí thức, học sinh, sinh viên của Miền Nam Việt Nam, đám bợ đít VC, nhưng mà là từ kinh nghiệm hàng ngày. Vì lý do đó, thật là hoàn toàn lầm lẫn khi buộc tội ông là vô cảm trước những vấn đề xã hội, insensible to social problems.
Con người ký giả ở trong ông, trong rất nhiều dịp, đã tố cáo sự bất công kinh tế, tệ phân biệt, và thiên kiến xã hội, cũng bằng một cái nhìn trong sáng mà con người tiểu luận ở nơi ông sử dụng, để chiến đấu chống lại khủng bố của đám quyền chức. Đây là điều ông viết, vào năm 1939, trong Sự khốn cùng ở Kabylia, tố cáo hoàn cảnh khủng khiếp của những người kabilas ở Algeria, vì bài viết mà ông bị trục xuất ra khỏi xứ sở. Trong tư tưởng của Camus, bóc lột kinh tế con người thì cũng bị kết án y hệt như đàn áp chính trị. Và cũng cùng lý do đó, xuyên qua niềm tin nhân bản của ông, là, cá nhân con người là cứu cánh, không phải phương tiện, kẻ thù của con người thì không phải chỉ là cái thằng đàn áp nó, mà còn là tên khốn kiếp đã bóc lột nó, để hưởng lợi; ngoài cái tên VC tống nó vô trại tập trung cải tạo, còn có tên 'tư bản', đỏ cũng có nữa, biến nó thành cái máy sản xuất. Nhưng, sự thực là, một khi định cư tại Pháp, Camus tập trung vào đàn áp chính trị, và đạo đức hơn là kinh tế. Thứ nhất, do nó nóng bỏng ở nơi ông [ông ta, như tôi đã nói, là một gã Âu Châu, mà điểm qui chiếu chính với ông, lẽ dĩ nhiên, là thực tại Âu Châu], vào giai đoạn mà ông sống [ở đó]. Vào những năm hậu chiến, khi, đối đầu với nạn triều cường là chủ nghĩa Marx, sử tính, ý thức hệ, tất cả đều nỗ lực giản trừ con người về một vấn đề xã hội, tác phẩm của Camus càng trở nên quan trọng, thúc bách, như là một đối trọng, chúng nhấn mạnh đến một điều mà cả lũ kia vờ đi: đạo đức.
Nhưng chúng ta phải nhớ một điều là, kẻ phê phán nặng nề cách mạng, nhân danh ý thức hệ, thì chính anh ta cũng là một kẻ nổi loạn, và, tư tưởng của anh ta, trên nền tảng đạo đức, biện minh cái quyền của con người chống lại sự bất công. Điều khác biệt ở đây là giữa cách mạng và nổi loạn, rebellion. Liệu cả hai đều dẫn tới bạo động, và không thể tránh?
Bởi vì với Camus, cách mạng là một kẻ đặt con người dưới sự sai khiến của những tư tưởng [the revolutionary is a person who places man at the service of ideas], một kẻ được sửa soạn để hy sinh con người đang sống cho con người sắp tới [who is to come], kẻ đẩy đạo đức vào trong một tiến trình được điều khiển, được cai trị bởi chính trị, kẻ chọn công lý thay vì đời sống, [who prefers justice to life], kẻ tin tưởng vào cái quyền được nói dối, và quyền giết người, vì lý tưởng. Một kẻ nổi loạn có thể nói dối, có thể giết người, nhưng anh ta biết, anh ta không có quyền làm như thế, và nếu, một khi anh ta xử sự như thế, là anh ta đe dọa nghĩa cả của anh ta [he threatens his cause]. Anh ta không thể đồng ý, ngày mai ca hát vì ngày hôm nay chưa thấy ca hát! [Anh ta không đồng ý, ngày mai hơn ngày hôm nay, he does not agree that tomorrow should take preference over today]; anh ta biện minh cứu cánh bằng phương tiện, và anh để chính trị phục vụ một nghĩa cả, cao hơn nó – và đó là đạo đức.
Liệu cái món “không tưởng tương đối” này, của Camus, quá tầm tay chúng ta? Có thể thế, nhưng cũng đáng thòm thèm [desirable] vậy, và chắc chắn, nó bảnh hơn, đáng kính hơn so với mấy thứ đang ăn khách, it is more honorable than other models of current action. Sự kiện, mấy kiểu mẫu đang ăn khách kia thành công mau lẹ không có nghĩa chúng ưu việt hơn món hàng “không tưởng tương đối” của Camus, bởi vì sự thực về nỗ lực của con người thì không thể đo lường được bằng hiệu quả mà nó đạt được, [như Mít nói, không thành công thì thành nhân, thí dụ vậy]. Nhưng nếu có ai đó thắc mắc về giới hạn rõ rệt, mà Camus đặt ra, về hành động nổi loạn, thì người đó không thể chối cãi được một điều, trong lý thuyết cũng như trong thực hành, Camus không phải là cái thứ người chịu thần phục, he was an nonconformist, ông là một đối thủ của “định mệnh đã an bài”, ông chống lại điều gọi là “cái nước mình nó như thế”! [he was an opponent of the established order]."
Tôi muốn chấm dứt bài viết bằng cách nhắc tới một khía cạnh của Camus mà tôi rất ư là đồng điệu. Thời này là thời của nhà nước, và con quái vật này lấn chiếm hết mọi xứ sở, miền đất, cả những vùng trước nay coi như an toàn, được bảo vệ, xoá nhòa biên giới, sự khác biệt, tạo ra một sự đồng đều giả hiệu [trừ khử những cách biệt, như Caligula], và con quái vật cũng tác động [affecting] tới giới văn nghệ sĩ khiến họ qụy ngã trước bổng lộc, đời sống vật chất và trở thành nhân viên bàn giấy, tay chân của quyền lực. Tôi muốn nói tới liên hệ giữa người sáng tạo, creator, và những nguyên lý cai quản những xã hội [the principles that govern societies]. Như Breton và Bataille, Camus cảnh báo, vào lúc chung cuộc, sẽ có một vực thẳm không làm sao bắc cầu, giữa hai thế lực trên, bởi vì, phận sự của kẻ sáng tạo, là lo điều hòa, sửa sai, và tạo đối lực giữa những thế lực ở trong xã hội. Quyền lực, bất cứ quyền lực nào, thì đều chứa trong nó những mầm mống của điều gọi là ‘muôn năm trường trị’, self-perpetuation, và, nếu không được kiểm tra, nó sẽ phát triển giống như căn bệnh ung thư, và dẫn tới chuyên chế, độc tài. Trong thời hiện đại, với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, đây là một nguy hiểm đạo đức: thời đại của chúng ta là thời đại tuyệt hảo của những chế độ độc tài, của cảnh sát trị, của những chiếc PC, và những nhà phân tâm học, bịnh lý học. Chống lại sự đe dọa này - nó là kẻ nội thù, ở trong mọi cơ cấu quyền lực - là một địch thủ, tuy nhỏ bé, nhưng cương quyết, bướng bỉnh, lỳ lợm, đứng ngáng đường, giống như David chống lại Goliath: người sáng tạo, the creator. Với anh ta, bởi vì tính của anh ta là như thế, bởi cái sở hụi của anh ta là như vậy [by the very nature of his office], cái chuyện chống giữ, bảo vệ tự do, vừa là bổn phận đạo đức, vừa là còn do, nếu không chống, thì sẽ chết vì “ngứa quá” chịu không nổi, [chôm chữ của nhà đại phê bình để dịch cụm từ a “physical need”, ở đây]. Hơn thế nữa, tự do là một đòi hỏi mang chất yếu tính, của thiên hướng của anh ta, nghĩa là, của cuộc đời của anh ta. Trong “The Banishment of Helen”, Sự bãi bỏ Helen, Camus viết: "Tinh thần lịch sử, và nghệ sĩ, mỗi đứa mỗi bên, bằng đường hướng riêng của nó, đều muốn làm lại, remake, thế giới. Thằng cha nghệ sĩ, do bản chất của nó, hiểu được những giới hạn mà tinh thần lịch sử đếch làm sao hiểu được. Chính thế mà, cái thằng sau [tinh thần lịch sử] chấm dứt bằng bạo tàn, bạo chúa, bạo lực, bằng VC độc tài, độc đảng, [đúng như thế, vì đảng CS Mít, đúng “từ khi chưa có nó”, từ khi chỉ có thằng Tây mũi lõ, cho đến khi ăn cướp được Miền Nam, là biến thành Con Quỉ Bắc Kít!]. Còn thằng nghệ sĩ, niềm đam mê của nó, là đam mê tự do. Tất cả đám này, chiến đấu cho tự do, xong, bèn chiến đấu cho cái đẹp.”
Vào năm 1948, trong một cuộc nói chuyện ở Salle Pleyel, Camus lập lại: “Vào một thời đại mà kẻ chiến thắng, chinh phục, bằng luận lý của thái độ của anh ta [by the logic of his attitude], trở thành một tên hành quyết, an executioner, hay một tên cảnh sát, một gã công an, thì chàng nghệ sĩ bắt buộc phải là một gã cứng đầu cứng cổ, một tên ngoan cố, [a recalcitrant]. Trước xã hội chính trị đương thời, thái độ bảnh nhất và độc nhất, của người nghệ sĩ, ngoại trừ anh ta tính từ bỏ nghệ thuật của mình, là đếch thèm chơi với chế độ, không điều kiện điều kiếc, không biên tập biên tiếc gì hết, [In the face of contemporary political society, the only coherent attitude of the artist, unless he prefers to renounce his art, is unconditional rejection.]”. Tôi tin tưởng rằng bây giờ, tại Mỹ Châu La Tinh, tại đây, xứ sở của chính tôi, thật khó khăn nhưng bắt buộc phải như vậy, là, bất cứ kẻ nào vẽ, viết, hay soạn [nhạc, kịch...], kẻ đó phải hiểu rằng, tự do là điều kiện chính của sự hiện hữu của anh ta, và anh ta phải gìn giữ cho được sự độc lập của mình, và nhắc nhở đám cầm quyền, ở bất cứ thời điểm nào, bằng bất cứ phương tiện gì, về đạo đức học của những giới hạn.
Có thể, tiếng nói đó, của Camus, một tiếng nói của lẽ phải, reason, điều độ, moderation, bao dung, tolerance, thận trọng, prudence, nhưng còn là của can đảm, tự do, cái đẹp, và lạc thú, thì không kích thích, stimulating, và cũng không quyến rũ, đối với những người trẻ tuổi, so với của những nhà tiên tri của phiêu lưu bạo động, hay của từ chối mang tính khải huyền, apocalyptical denial, như Che Guevara, hay Frantz Fanon, chúng làm cho đám trẻ trở nên khích động, tạo hứng khởi cho họ, khiến họ sướng điên lên! [to such a degree]. Tôi nghĩ, điều này thì thực là không đúng, unjust. Như sự đời hiện nay, as things are today in the world, những giá trị và những tư tưởng – ít nhất là rất nhiều trong số này – mà Camus đề xuất, và hỗ trợ, đã trở nên cần thiết, cho cuộc sống, để mà sống được, for life to be livable, cho xã hội, để cho nó là một xã hội thực sự người, cũng cần thiết như là những giá trị mà Che và Fanon biến chúng thành tôn giáo, và cả hai từ bỏ cuộc sống của họ vì nó.
Kinh nghiệm hiện đại cho chúng ta thấy, tách biệt sự chiến đấu chống lại cái đói, sự bóc lột, và chủ nghĩa thực dân thuộc địa, ra khỏi cuộc chiến đấu cho tự do, và phẩm giá của cá nhân con người, thì thật đúng là tự sát, phi lý, cũng như tách rời ý nghĩ về tự do ra khỏi ý nghĩ về công lý thứ thiệt, true justice, và chuyện này xung khắc, incompatible, với chuyện phân chia không đúng [unjust distribution] của cải và quyền lực. Ôm tất cả mớ đó, gom chung thành một cục, đưa vào một hành động chung, cho chỉ một mục tiêu, a single goal, thì, lẽ dĩ nhiên rất khó khăn, và là một cuộc phiêu lưu đầy rủi ro, nhưng chỉ qua một cuộc phiêu lưu như vậy, xã hội mới có ngày biến thế gian thành thiên đàng, thứ thiên đàng mà những tín đồ tôn giáo tin tưởng, cho một kiếp sau, trong một thế giới khác. Như Camus viết: “Đời sống thì tự do cho mọi người và đúng là cho tất cả” [“Life is free for everyone and just for all”], một khi mà chúng ta đăng nhập vào cuộc chiến đấu này, và đeo đuổi nó cho tới khi chiến thắng, kệ mẹ ai nói gì thì nói, thù nghịch gì cũng kệ cha, thì khi đó, đọc đi đọc lại Camus, mới càng thấy quí giá vô vàn đối với chúng ta.
Mario Varga Llosa
Lima, 18 May, 1975

NQT chuyển ngữ


Comments

Popular posts from this blog

Hoàng Hạc Lâu

Bi Khúc

Quang Dũng