Cõi Trần: Earthly Measures


New Arrival: Cuốn này, order qua nhà sách Indigo, vừa mới về.
Có mấy bài, đã post trên Tin Văn, lấy từ cuốn The Living Fire.
Post 1 bài mới tinh, từ New Tinvan chuyển qua, vì FB chỉ có 1 kiểu chữ

The Renunciation of Poetry 

(Hofmannsthal in Athens, 1908

These ruinous days of autumn. At dawn
the brightness seeps through the crumbling air,
at dusk the air gathers up the brightness.

So this is Greece, fabled decay. For years
he dreamt of caressing the flanks of these hills
and standing on the Aegean's thunderous shoulders,

but now he feels a gust of disappointment
at a country of tombs and columns, graveyards
and excavations, stones and fragments of stones.

The dust of travel still clings to his body,
and particles of sunlight fade on his skin.
What has happened to the eternal presences?

He climbs to the Acropolis in early evening
to watch the sun descending behind the Parthenon.
The first fires are being stoked in the sky,

and there is a smell of acacias, ripening
wheat and the open sea. But nothing penetrates.
In this light everything disintegrates into mist.

These Greeks, he wonders, what are they
but shadows dissolving into shadows, prophets
of non-existence, premonitions of emptiness.

Impossible antiquity, aimless searchings.
He despises them for becoming vain boasts
and eternal treacheries, wall decorations.

In the museum he sees showcases of death:
a goblet that resembles Kronos's shoulder,
a serpent that evokes the shape of an arm.
And then he sees her: an enormous figure,
heavy and lithic, staring at him
with slanting, expressionless eyes. A virgin-

animal, divine-a sacrificial offering.
He closes his eyes: someone is touching
her breast and kneeling, drinking her knees,

nestling a head on her foot. For once
the unattainable has opened its arms
and beckoned, the abyss has yawned ...

He glances up: there are four others
glaring at him, vacant sockets for eyes.
Their voices are lamps fading in daylight,

an insolent laughter rising from the floor,
an echoing silence. Their faces are masks,
the overpowering bodies withdrawn to stone.

He turns back to look at her but she is gone:
the statue is dead, nothing can revive it.
The goddess is something that has died in him.


Uncertainty

We couldn't tell if it was a fire in the hills
Or the hills themselves on fire, smoky yet
Incandescent, too far away to comprehend.
And all this time we were traveling toward
Something vaguely burning in the distance-
A shadow on the horizon, a fault line-
A blue and cloudy peak which never seemed
To recede or get closer as we approached.
And that was all we knew about it
As we stood by the window in a waning light
Or touched and moved away from each other
And turned back to our books. But it remained
Even so, like the thought of a coal fading
On the upper left-hand side of our chests,
A destination that we bore within ourselves.
And there were those-were they the lucky ones?-
Who were unaware of rushing toward it.
And the blaze awaited them, too.

Edward Hirsch: The Living Fire


Không chắc

Chúng tôi không thể nói, có 1 đám cháy ở nơi những ngọn đồi
Hay những ngọn đồi, chính chúng, cháy
Tuy nhiên, khói, có, sáng rực một màu
Nhưng xa quá, không sao hiểu
Và trong tất cả thời gian đó, chúng tôi đi về một cái gì, mơ mơ hồ hồ, cháy, từ một khoảng xa –
Một cái bóng ở nơi chân trời, một đường nét lầm lạc –
Một ngọn đỉnh trời – thì cứ phán đại như thế - xanh xanh, có mây
Nó có vẻ chẳng bao giờ thèm lùi, hay, tới gần hơn, trong khi chúng tôi thì cứ xấn tới.
Và đó là tất cả những gì chúng tôi biết về nó.
Khi chúng tôi đứng bên cửa sổ trong ánh sáng nhợt nhạt
Hay mân mê nhau, hay rời xa nhau
Và quay trở lại với những cuốn sách của chúng tôi
Và nó cứ ỳ ra, mãi như thế
Như ý nghĩ về 1 cục than hồng tàn lụn dần
Ở phía bên cánh tay trái của trái tim của chúng tôi
Một chốn tới mà chúng tôi giữ rịt ở bên trong chính chúng tôi
Và có những kẻ - những kẻ may mắn?-
Họ đếch cần biết, hay đếch thèm để ý đến chuyện, chạy tới nó.
Và ngọn lửa, hay, đám cháy, tuy nhiên, vưỡn đợi họ.



Note:

Bài thơ mở ra cõi thơ Cõi Trần


The Renunciation of Poetry 
 (Hofmannsthal in Athens, 1908) 
These ruinous days of autumn. At dawn
the brightness seeps through the crumbling air,
at dusk the air gathers up the brightness.
So this is Greece, fabled decay. For years
he dreamt of caressing the flanks of these hills
and standing on the Aegean's thunderous shoulders,
but now he feels a gust of disappointment
at a country of tombs and columns, graveyards
and excavations, stones and fragments of stones.
The dust of travel still clings to his body,
and particles of sunlight fade on his skin.
What has happened to the eternal presences?
He climbs to the Acropolis in early evening
to watch the sun descending behind the Parthenon.
The first fires are being stoked in the sky,
and there is a smell of acacias, ripening
wheat and the open sea. But nothing penetrates.
In this light everything disintegrates into mist.
These Greeks, he wonders, what are they
but shadows dissolving into shadows, prophets
of non-existence, premonitions of emptiness.
Le renoncement à la poésie
(Hofmannsthal à Athènes, 1908)
Ces jours ruineux de l'automne. À l'aube
la luminosité s'infiltre dans l'air en ruine,
au crépuscule, l'air reprend sa luminosité.
Donc, c'est la Grèce, délabrement légendaire. Pendant des années
il rêvait de caresser les flancs de ces collines
et debout sur les épaules toniques de la mer Égée,
mais maintenant il ressent un coup de déception
dans un pays de tombeaux et de colonnes, cimetières
et des fouilles, des pierres et des fragments de pierre.
La poussière du voyage reste accrochée à son corps,
et des particules de soleil disparaissent sur sa peau.
Qu'est-il arrivé aux présences éternelles?
Il monte à l'Acropole en début de soirée
regarder le soleil descendre derrière le Parthénon.
Les premiers feux sont attisés dans le ciel,
et il y a une odeur d'acacias, mûrissant
le blé et la mer ouverte. Mais rien ne pénètre.
Sous cette lumière, tout se désintègre dans la brume.
Il se demande ces Grecs, que sont-ils
mais les ombres se dissolvent en ombres, les prophètes
de la non-existence, prémonitions de la vacuité.
Impossible antiquity, aimless searchings.
He despises them for becoming vain boasts
and eternal treacheries, wall decorations.
In the museum he sees showcases of death:
a goblet that resembles Kronos's shoulder,
a serpent that evokes the shape of an arm.
And then he sees her: an enormous figure,
heavy and lithic, staring at him
with slanting, expressionless eyes. A virgin-
animal, divine-a sacrificial offering.
He closes his eyes: someone is touching
her breast and kneeling, drinking her knees,
nestling a head on her foot. For once
the unattainable has opened its arms
and beckoned, the abyss has yawned ...
He glances up: there are four others
glaring at him, vacant sockets for eyes.
Their voices are lamps fading in daylight,
an insolent laughter rising from the floor,
an echoing silence. Their faces are masks,
the overpowering bodies withdrawn to stone.
He turns back to look at her but she is gone:
the statue is dead, nothing can revive it.
The goddess is something that has died in him.
Une antiquité impossible, des recherches sans but.
Il les méprise pour devenir vaines vanités
et des trahisons éternelles, des décorations murales.
 
Dans le musée, il voit des vitrines de la mort:
un gobelet qui ressemble à l'épaule de Kronos,
un serpent qui évoque la forme d'un bras.
Et puis il la voit: une silhouette énorme,
lourd et lithique, le regardant
avec des yeux bridés et sans expression. Une vierge-
 
animal, divin - une offrande sacrificielle.
Il ferme les yeux: quelqu'un se touche
sa poitrine et à genoux, buvant ses genoux,
 
niché une tête sur son pied. Pour une fois
l'inaccessible a ouvert les bras
et a fait signe, l'abîme a bâillé ...
 
Il lève les yeux: il y a quatre autres
le fixant, les orbites vacantes pour les yeux.
Leurs voix sont des lampes se fanant à la lumière du jour,
 
un rire insolent s'élevant du sol,
un silence qui résonne. Leurs visages sont des masques,
les corps accablants retirés à la pierre.
 
Il se retourne pour la regarder mais elle est partie:
la statue est morte, rien ne peut la raviver.
La déesse est quelque chose qui est mort en lui.
 
Edward Hirsch: Earthly Measures


Tạ Từ Thơ
(Hofmannsthal ở Athens, 1908)
Những ngày tàn tạ tiêu ma của mùa thu.
Hừng đông,
Sự sáng sủa len lỏi, luồn lách, qua bầu không khí điêu tàn
Chập tối,
Không khí bèn thu gom vẻ sáng sủa của nó.
Hy Lạp là như vậy đó, sự tiêu ma tàn tạ được vinh danh, và biến thành giai thoại, thần thoại
Nó thèm ơi là thèm
Ve vuốt những sườn đồi
Và đứng - sừng sững, ngất ngưởng – trên vai giông bão, sấm chớp của biển Aegean
Nhưng vào lúc này, có vẻ như chàng hơi bị oải, cảm thấy có tí bất bình
Trong một xứ sở chỉ toàn những, nào là mồ mả, nào là những cây cột cao lênh khêng, nghều nghệu, nào là những bãi tha ma, những đào đào xới xới, đá, và đá vụn.
Bụi lãng du còn bám đầy cơ thể chàng
Ánh nắng, còn lợt lạt trên da mặt
Chuyện gì xẩy ra cho những hiện tại vĩnh cửu, đời đời?
Hắn trèo lên Acropolis lúc xế trưa sớm chiều
Nhìn mặt trời lặn sau Parthenon
Những bếp lửa đầu tiên đã được gầy, trên bầu trời.
Và rồi có mùi acacias, làm chín mõm lúa mì, và biển mở rộng
Nhưng chẳng có chi tiến vô, nhập vào.
Trong ánh sáng, mọi thứ phân hóa vào sương mù.
Hắn tự hỏi, lũ Hy Lạp, chúng là thứ chi, giống gì
Chỉ là những cái bóng, tan loãng vào những cái bóng, những nhà tiên tri của cái đếch hiện hữu – “vô thường” cái con mẹ gì đó - những con chim báo bão, là, cái trống không
Cái cổ xưa bất khả, “đếch có thể”, những truy tìm chẳng có mục đích chi chi, chẳng nhắm tới đâu.
Hắn bèn khinh bỉ chúng, 1 lũ khoe khoang, bốc phét cái vô ích, vô dụng
Những trò bịp bợm vĩnh cửu, dán đầy tường.
Ở viện bảo tàng, hắn coi mấy tủ kính bày hàng, là, cái chết:
Một cái ly có chân, trông giống như vai thần Kronos.
Một con rắn, như cánh tay.
Và rồi, hắn nhìn thấy nàng, một hình tượng lớn lao,
Nặng nề, bằng đá, và nàng nhìn hắn
Với cặp mắt xiên xéo, vô hồn
Một con thú-trinh tiết, một thánh nữ - 
thì cứ gọi đại như thế - một hiến dâng, một tế thiêu
Hắn bèn nhắm mắt; Một người nào đó đụng vô vú nàng, quỳ, uống đầu gối nàng.
Rúc đầu, phủ phục dưới chân nàng.
Chỉ một lần, người không thể nào chạm tới
Mở rộng đôi tay, ra dấu, vực thẳm bèn mở ra….
Hắn nhìn lên, có bốn tên khác nhìn hắn, mắt rỗng tuếch, như những cái hố, không có tròng
Tiếng nói của họ thì như những ngọn đèn nhạt nhoà dần trong ánh sáng ban ngày.
Một tiếng cười khả ố nổi lên từ sàn nhà,
Một tiếng vang câm lặng. Những bộ mặt của họ là những cái mặt nạ
Những cơ thể hung hăng lùi vào đá.
Hắn quay lại, nhìn nàng, nhưng nàng đã bỏ đi:
Bức tượng, chết, chẳng có gì làm nó sống lại
Nữ thần là 1 điều gì đã chết ở trong hắn.








Comments

Popular posts from this blog

TDT

Bi Khúc

Hoàng Hạc Lâu