NNT vs Faulkner



Cánh Đồng Bất Tận vs Sanctuaire



Absalom, Absalom!
Tôi biết hai loại nhà văn. Một, ám ảnh của họ là cuộc diễn biến của chữ, verbal procedure, một, việc làm, work, và đam mê của con người. Loại thứ nhất, cực điểm của họ, là ‘nghệ sĩ thuần tuý’. Loại kia, may mắn thay, được ban cho những cái nón như là “sâu thẳm” [profound], “nhân bản”, human, rất nhân bản. Trong số này, còn có những người ở giữa, nghĩa là tu tập cả niềm vui lẫn đức hạnh của cả hai loại trên. Trong số những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất, Joseph Conrad là người cuối cùng, có lẽ, đã quan tâm đến những thủ tục của một tiểu thuyết như trong số phận và nhân cách của những nhân vật của ông. Người cuối cùng, cho đến khi Faulkner xuất hiện trên sàn diễn.
Faulkner thích trình ra cuốn tiểu tiểu thuyết của ông, qua những nhân vật. Phương pháp này thì cũng không hoàn toàn do ông mà ra: Cuốn Cái Nhẫn và Cuốn Sách (1868), của Robert Browning tả chi tiết một tội ác 10 lần, qua 10 cái miệng và 10 linh hồn, nhưng Faulkner tẩm sự căng thẳng, cuờng độ, vào trong những nhân vật của mình đến mức độc giả, thứ "cà chớn" sẽ đếch làm sao chịu được! Một cung cách mẩu đoạn, phá nát văn phong đến tận cùng, [cánh đồng bất tận mà!] đến vô cùng, dục vọng thì cũng vô cùng, và đen thui, đó là những gì người đọc tìm thấy ở trong một cuốn sách của ông. Nhà hát là Mississippi, những nhân vật của ông, đàn ông, bị tiêu ma, huỷ diệt bởi lòng ham muốn, rượu, cô đơn, và tàn tạ mãi đi, vì hận thù.
Absalom, Absalom! có thể sánh với Âm thanh và Cuồng nộ, và tôi không biết, có lời vinh danh nào cao hơn thế nữa, về nó!
Borges

*
Sanctuaire n'est en effet pas un roman d'action comme un autre, et certainement pas un ouvrage de série. Car ce qui y est dit est si effroyable, si cru, si brutal qu'il sacralise une véritable esthétique de la perversion, exprimée selon une vision douloureuse de la sexualité et du crime. Tous les personnages du livre sont, de fait, des corrompus, entièrement fascinés par la violence et la luxure, totalement soumis à l'emprise du mal. Dans ces conditions, on comprend pourquoi André Malraux a parlé de Sanctuaire comme d'une tragédie, en sachant fort bien ce que recouvrait le mot. D'où aussi ces phrases de Marc Saporta, dans sa «psychobiographie » de Faulkner : « On trouve au coeur de Sanctuaire l'un des ressorts les plus révélateurs dont use la mythologie pour nous renseigner sur la condition humaine: l'homme ou la femme semble s'acharner avec persévérance à faire son propre malheur. »
Jean Baptiste Baronian, Le Magazine Littéraire, hors- série (Juillet-Aout 2009): Le Polar
Giáo Đường không phải tiểu thuyết đấm đá, hay cùng loại sách đen (série noire). Bởi vì những gì ở trong đó thì quá đỗi khủng khiếp, quá sống, quá tuơi, quá tàn bạo, đến nỗi nó thánh hóa, thiêng hóa, vươn tới 1 thứ mỹ học thực thụ của sa đọa, trầm luân, được diễn tả theo một viễn ảnh hết đỗi bi thương của sex và tội ác. Tất cả những nhân vật ở trong cuốn tiểu thuyết thì đều là những tên hư hỏng, đồi bại, hoàn toàn bị hớp hồn bởi bạo lực và dâm ô, tự tâm tự nguyện, hoàn toàn quỳ phục Cái Ác. Trong những điều kiện như thế, người ta hiểu tại sao Malraux coi Giáo Đường như là “bi kịch”, và rất rành, rất tự tin, tại sao ông dùng từ đó. Và cũng thế, là những dòng của Marc Saporta, trong “tiểu sử tâm lý học của Faulkner”, của ông: Người ta tìm thấy ở nơi trái tim của Giáo Đường một trong những động lực mang tính mặc khải nhất, được sử dụng trong huyền thoại học, để giảng dậy cho chúng ta về phận người: “đờn ông hay đờn bà, bám riết lấy, cố thực hiện cho bằng được, nỗi bất hạnh của riêng họ”.
Hà, hà!
Ý chót - bữa trước dịch sai, đã sửa – làm nhớ đến nàng Kiều, của Nguyễn Du:
Ma đưa lối quỉ dẫn đường
Cứ tìm những chốn đoạn trường mà đi.
Đúng là quảng cáo không công cho nhà xb Phương Nam!
Thánh Địa của Gấu
Bài viết này, sơ sài quá. Hơn nữa, khó mà gọi trường Trường Sơn là “bên Chợ Đũi” được.
TS nằm gần ngã tư Hồng Thập Tự/Lê Văn Duyệt, Chợ Đũi nằm tại ngã tư Trần Quý Cáp/Lê Văn Duyệt, bên kia chợ là cái quán cà phê hủ tíu Tầu, Thánh Địa, nơi Gấu vẫn hẹn gặp BHD, mỗi lần em đưa cô em gái tới trường trung học Kiến Thiết, nằm trên một con hẻm cũng gần đó, trên đường Trần Quý Cáp.
Nhà HPA trên 1 con hẻm quá chút nữa. Khu này hồi đó đó có những quán sách cũ, Gấu và HPA ưa lục lọi, nào nrf, nào Ellery Queen, nào SF, nào série noire…
GNV đọc bài điểm cuốn "Những Kẻ Mộng Du", [Les Somnambules, The Sleep Walkers], của Koestler, trên tờ nrf, tại đây, đọc cọp, và nhớ hoài cái vòng tròn ma quái, vòng tròn tuyệt hảo, vòng tròn chúc dữ, là chủ nghĩa CS thần kỳ đưa loài người tới Thái Bường, không còn người bóc lột người!
Trong những giáo sư của trường, tay viết bài này quên nhà thơ TTT!
Bạn quí của Gấu cũng dậy ở đây.
Bạn C, trong Thất Hiền, sau khi rớt Tú Tài, hết còn được học CVA, bèn ra đây học, chắc là khỏi phải trả tiền.
Chính ở đây, bạn ta quen người đẹp có cái tên thật là tuyệt vời "Lạnh Thì Tuyết Rơi"!
Bạn phải dịch cái tên đó ra tiếng Tàu, giống như VP dịch tiếng Mẽo qua tiếng Mít, thì mới biết tên thực của người đẹp.
Cuộc tình không đi tới đâu, nhưng em quả là đẹp thật!
Sau em quen DNM, cũng 1 nhân vật giang hồ, được ông Chánh Tổng An Nam tại Paris nhắc tới, trong bài viết về BL, khi nhà thơ ra đi. DNM sau tự tử, tại Canada, theo DT.
Cái chỗ mà sau này là trường TS đó, là 1 trong những nơi chốn đầu tiên Gấu ghé, khi vừa mới tới Sài Gòn, vì là nhà của ông cử Ngô Thúc Địch, bà con với ký giả Hiếu Chân.
Con trai ông cử, là Ngô Tôn Liên, sau là bác sĩ nổi tiếng. Gấu phải gọi là Chú. Ông này có chỉ bảo Gấu mấy đường Toán, nhờ đó, Gấu tự mình tìm ra phương trình đường thẳng, đem đi khoe anh bạn cùng học NKL, anh thương hại lắc đầu vô nhà lấy cuốn sách toán, chỉ cho Gấu thấy, thứ này, người ta kiếm ra từ hồi nảo hồi nào rồi.
Gấu đọc mà cảm thấy thê lương vô cùng, hóa ra cái chó gì thì loài người cũng đều đã biết tỏng, tại sao còn cho Gấu ra đời làm cái chó gì nữa hả ông Trời!
Hoá ra là Gấu ra đời, là chỉ để gặp BHD!
Để được ghé Thánh Địa, là cái quán cà phê ngã tư Chợ Đũi, để chờ Thánh Nữ, BHD, và nhờ vậy mà sau này viết được Thánh Truyện,
Hà Nội Của Gấu!
Source
Sartre, khen nắc nỏm Âm thanh và Cuồng nộ, nhưng chê hết lời Sartoris, coi đây là thứ nghệ thuật đánh lừa con mắt.
Lạ, là Borges lại coi đây, thứ nghệ thuật mà con mắt của Faulkner, là thứ thượng thừa, khi viện dẫn một câu của Boileau, để minh chứng: ”Cái thực đôi khi có thể chẳng có vẻ thực: Le vrai peut quelquefois n’être pas vraisemblable.”
Trong Borges a Reader, có ba bài điểm, review, thật ngắn, của Borges, về ba tác phẩm của Faulkner: The Unvanquished, Absalom, Ansalom!,
Gấu nhà văn

Kurtz des ténèbres [Kurtz của bóng đen]
Bien qu'il n'ait jamais disparu, le courant brun qui coulait rapidement du cœur des ténèbres vers la mer en nous emportant sur le fleuve Congo est de retour. Et avec lui revient le personnage de Kurtz qui, lui non plus, n'a jamais disparu, ou s'il l'a fait, il était « parti très loin, comme dirait Kafka, pour rester ici ».
Thì, tất nhiên, nó chẳng bao giờ biến mất, cái dòng nước đục ngầu, đỏ như máu, của sông Hồng, chảy từ trái tim của bóng đen, là thành phố Hà Nội, ra biển, đưa chúng ta dạt dào lưu vong, sau khi thoát hải tặc Thái lan, mãi tít tới miệt Công Gô, và, ăn Tết Công Gô xong, lại trở về.
Và cùng về với nó, là nhân vật Kurtz; anh này, tất nhiên, cũng chẳng hề biến mất, hay là, nếu anh ta làm như thế, “anh ta đi rất xa, nói như Kafka, để ở lại đây”.
Ui chao, nghe cảm khái cứ như thi sĩ Huỳnh Văn Nghệ, và những đấng Yankee mũi tẹt, giang hồ khắp thế giới, đi đến đâu là biến nhà người, đất người thành bãi đánh hàng:
Từ thuở mang gươm đi dựng nước
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long
 *
Cầu Việt Trì, trên sông Hồng, nơi ông cụ Gấu, vào năm 1946, được một đấng học trò làm thịt, xong, thẩy xuống sông, kèm cục đá tổ bố, để cho khỏi nổi lên.
Kurtz, như thế, họ hàng với Colonel Sutpen, trong Absalom, Absalom!
Cũng dòng Yankee mũi tẹt, gốc gác Hải Dương [cùng quê PXA], hay Sơn Tây [cùng quê Tướng Râu Kẽm]?
Gấu bảnh hơn cả PXA & Râu Kẽm: Sinh Hải Dương, nhưng gốc dân Sơn Tây!
Gấu về Bắc lần đầu, năm 2000 [2001, sửa lại. NQT],  là để tìm hỏi coi ông bố mình mất ngày nào, và đến chỗ ông mất, trên, ngày xưa chỉ là một bãi sông, thắp nén hương cho bố, rồi đi.
Mấy ông bạn văn VC nói, đi làm cái quái gì nữa, anh mua cái nhà, khu Thanh Xuân chẳng hạn, vừa gần Tướng Về Hưu vừa gần tụi này!
Đi rất xa, chỉ để ở lại đây!
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm!
*
Motifs
In the novel, Conrad uses the river as the vehicle for Marlow to journey further into the "heart of darkness." The descriptions of the river, particularly its depiction as a snake, reveal its symbolic qualities. The river "resembl[es] an immense snake uncoiled" and "it fascinates [Marlow] as a snake would a bird." Not only is Marlow captivated by the river, representing as it does the jungle itself, but its association with a snake gives this "fascination of the abomination" its metaphorical characteristics. The statement that "the snake had charmed me" alludes to both the idea of snake charmer and the snake in the story of Genesis. While typically, a snake charmer would charm the snake, in this case, Marlow is charmed by the snake, a reversal which puts the power in the hands of the river, and thus the jungle wilderness. Furthermore, the allusion to the snake of temptation from the story of Adam and Eve demonstrates how the wilderness itself contains the knowledge of good and evil, and upon entering that wilderness Marlow will be able to see, or at least explore, the characteristics of humanity as well as good and evil.
Heart of Darkness [Wikipedia]
Miêu tả sông Hồng, đặc biệt, như một con rắn, làm bật ra chất biểu tượng của câu chuyện... Nó hớp hồn Marlow, như con rắn trước con chim [như con cua NDT co rúm người trước con ếch TH! Coi hồi ký NDM]
Reception
In a post-colonial reading, the Nigerian writer Chinua Achebe famously criticized the Heart of Darkness in his 1975 lecture An Image of Africa: Racism in Conrad's "Heart of Darkness", saying the novel de-humanized Africans, denied them language and culture, and reduced them to a metaphorical extension of the dark and dangerous jungle into which the Europeans venture. Achebe's lecture prompted a lively debate, reactions at the time ranged from dismay and outrage—Achebe recounted a Professor Emeritus from the University of Massachusetts saying to Achebe after the lecture, "How dare you upset everything we have taught, everything we teach? Heart of Darkness is the most widely taught text in the university in this country. So how dare you say it’s different?"[3]—to Cedric Watts' A Bloody Racist: About Achebe's View of Conrad (1983),[4] which sets out to refute Achebe's critique. Other critiques include Hugh Curtler's Achebe on Conrad: Racism and Greatness in Heart of Darkness (1997).[5]
In King Leopold's Ghost (1998), Adam Hochschild argues that literary scholars have made too much of the psychological aspects of Heart of Darkness while scanting the moral horror of Conrad's accurate recounting of the methods and effects of colonialism. He quotes Conrad as saying, "Heart of Darkness is experience...pushed a little (and only very little) beyond the actual facts of the case."[6]
Heart of Darkness is also criticized for its characterization of women. In the novel, Marlow says that "It's queer how out of touch with truth women are." Marlow also suggests that women have to be sheltered from the truth in order to keep their own fantasy world from "shattering before the first sunset."
Adaptations
The most famous adaptation of Conrad’s Heart of Darkness is Francis Ford Coppola's 1979 movie Apocalypse Now, which translates the context of the narrative from the Congo into Vietnam and Cambodia.
Heart of Darkness [Wikipedia]


Lại nói chuyện “hửi”.
Trong Giáo Đường, em nhí bị thằng chả bất lực phá trinh bằng cái bắp ngô - the barbarous deflowering of Temple. Vargas Llosa - GCC nhớ, hình như đọc 1 tay phê bình, đọc cuốn sách, hít hà, trang nào cũng dậy lên mùi ngô bắp!
Sợ, không chỉ mùi ngô bắp!
Cái xen Đỗ Hải Yến, vào vai em nhí, trong Cánh Đồng Bất Tận, mà chẳng bước ra từ Giáo Đường sao?
*
Giáo Đường làm Faulkner nổi tiếng, và, tai tiếng, như Đại Sư Phụ của "sự thờ cúng cái độc ác, tàn bạo". Ra lò năm 1931, Giáo Đường, khỏi bàn cãi, là 1 trong những tác phẩm quan trọng nhất của ông.
Và cũng là tác phẩm viết đi viết lại nhiều lần. Chắc là Người cũng ớn, như ghi chú nxb cho th
ấy:
EDITORS' NOTE
This volume reproduces the text of Sanctuary that has been established by Noel Polk. It is based on Faulkner's own typescripts-both the original carbon typescript that was completed in May 1929 and the revisions that he typed and affixed to his galley proofs in the summer of 193o--which have been emended to account for his revisions in proof, his indisputable typing errors, and certain other mistakes and inconsistencies that clearly demand correction. All of Faulkner's novels bear alterations of varying degrees of seriousness by his editors, but Sanctuary is without question the work that has been most heavily revised by the author himself.
Jean Baptiste Baronian, tác giả bài viết về Faulkner, trong số báo đã dẫn, đặt câu hỏi, liệu có nên xếp những tác phẩm của Faulkner vào “tiểu thuyết đen” không, bắt đầu bằng Giáo Đường?
Raymond Chandler's estate have chosen John Banville to write a new Philip Marlowe novel – but can he capture the hero's loneliness and the bleak glitter of LA?
Cơ sở quản lý di sản của Raymond Chandler đã chọn John Banville viết một cuốn tiểu thuyết mới, với nhân vật thám tử Philip Marlowe – nhưng liệu ông nắm bắt được nỗi cô đơn của nhân vật này, và vẻ rực rỡ ảm đạm của Los Angeles?
GCC phán: Sure. Luôn cả sự cô đơn của Marlowe. Vẻ rực rỡ ảm đạm của LA, not sure.
- Tiểu thuyết Thánh địa tội ác, dịch từ Sanctuary của William Faulkner. Trần Nghi Hoàng dịch. Thánh địa tội ác thuộc bộ ba tác phẩm Faulkner in ở Việt Nam gần đây, cùng Bọn đạo chính (tức The Reivers) đã in và The Wild Palms sẽ in. Ngoài ra, Âm thanh và cuồng nộ cũng đã được tái bản (dùng bản dịch của Phan Đan chứ không phải bản dịch trước đây của Sài Gòn). (Bách Việt & NXB Văn học).
Blog NL
Note: cái tít tiếng Việt, hỏng. Thánh Đường, Giáo đường thì OK, chứ Thánh Địa, nhảm quá. “Tội ác” cũng nhảm. Dịch giả TNH chắc là thuổng cái tít bài viết của Vargas Llosa về cuốn của Faulkner:  The Sanctuary of Evil.

“Tội ác” là cú có thiệt, danh từ cụ thể, đếm đuợc, count noun, còn "Evil" là Cái Ác, 1 ý niệm, một từ không đếm được, uncount noun. Khác nhau.
Dịch, chỉ mới cái tít không thôi, đã nhảm rồi.
* 
Số báo này có quá nhiều bài tuyệt cú mèo. Bài về Giáo Đường, của Faulkner, khui ra một chi tiết thật thú vị: Cuốn Pas d'Orchidées pour Miss Blandish (1938) của J.H. Chase, đã từng được Hoàng Hải Thuỷ phóng tác thành Trong vòng tay du đãng, là từ Giáo Đuờng bước thẳng qua. Cái từ tiểu thuyết đen, roman noir, của Tây không thể nào dịch qua tiếng Mẽo, vì sẽ bị lầm, "đen là da đen", nhưng có một từ thật là bảnh thế nó, đó là "hard boiled", dur à cure, khó nấu cho sôi, cho chín. Cha đẻ của từ này, là Raymond Chandler, cũng một hoàng đế tiểu thuyết đen!
Bài viết về Chandler của nữ hoàng trinh thám Mẽo, Patricia Highsmith cũng tuyệt. Rồi bài trả lời phỏng vấn của Simenon, trong đó, ông phán, số 1 thế kỷ 19 là Gogol, số 1 thế kỷ 20 là Faulkner, và cho biết, cứ mỗi lần viết xong một cuốn tiểu thuyết là mất mẹ nó hơn 5 kí lô, và gần một tháng ăn trả bữa mới bù lại được!
Bài trò chuyện với tân nữ hoàng trinh thám Tây Fred Vargas cũng tuyệt luôn: "Tôi chơi trò thanh tẩy" ["Je joue le jeu de la catharsis"].
Viết trinh thám mà là thanh tẩy!
*
Bài của JB ngắn, ở lề, nhưng tuyệt vời, viết về nghệ thuật mất, “the art of losing”.
TV sẽ dịch bài này, tặng độc giả TV, thứ nghệ thuật, không khó làm chủ, the art of losing is one that is not hard to master, và có rất nhiều điều hình như tắm đẫm cái ước mong được mất đi, nhờ vậy mà cái sự mất đi của chúng không là một thảm họa [“seem filled with the intent/to be lost that their loss is no disaster”], Banville mượn ý thơ của E. Bishop để giải thích.
Chúng ta chẳng bao giờ trưởng thành, nhưng cứ thêm tuổi mãi ra, già mãi ra, rồi già - và cái nhu cầu đồ chơi, và chơi đồ thì chẳng bao giờ yếu đi.
Tay Banville này, nhà văn, nhưng viết essay, viết review cũng thuộc bậc thầy.
Xứ Mít chưa đẻ ra được thứ nhà văn này. Toàn thứ viết làm xàm ba cái truyện ngắn, truyện dài, bằng 1 thứ văn phong “có sẵn trong trời đất”, trên báo chí, trong văn của người, nhiễm độc hồi nào không hay, bản thân, chưa từng có ai đẻ ra được 1 thứ văn phong của riêng mình...
*
Influences
The novelist Tibor Fischer summed up the general view on Banville's influences when he said, "You can sense the volumes of Joyce, Beckett and Nabokov on Banville's shelves." Banville himself has acknowledged that all Irish writers are followers of either Joyce or Beckett - and he places himself in the Beckett camp. A less obvious influence, which comes through most particularly in Banville's defence of his work as art, would be the Nobel laureate Harold Pinter. Banville's memories of his childhood in Ireland are also a source of inspiration in his later work, particularly in The Sea. "Even though I am now on the brink of old age, childhood is still a source of material," he has commented.
Sách gối đầu giường của Banville: “Bạn có thể ngửi ra mùi của Joyce, Beckett và Nabokov trên giá sách của tôi"
GCC đọc Sến, và lầm - tưởng mùi nữ bồ tát, hóa ra của nữ đại ma đầu!
Hà, hà!
Lại nói chuyện “hửi”.
Trong Giáo Đường, em nhí bị thằng chả bất lực phá trinh bằng cái bắp ngô - the barbarous deflowering of Temple. Vargas Llosa - GCC nhớ, hình như đọc1 tay phê bình, đọc cuốn sách, phán, trang nào cũng dậy lên mùi bắp ngô!
Cái xen Đỗ Hải Yến, vào vai em nhí, trong Cánh Đồng Bất Tận, mà chẳng bước ra từ Giáo Đường sao?
*
Đỗ Hải Yến trong Cánh Đồng Bất Tận [hình từ Bee] (1)
Ui chao, nhìn là thấy hiển hiện ra tất cả những nhân vật nữ của Faulkner!
Nhất là cái em trong Giáo Đường, Sanctuaire, bị thằng liệt dương phá trinh bằng cái bắp ngô!
Liệt dương ư?
Hay là tay hiệu trưởng gì gì đó?

*
NNT chưa từng đọc Faulkner, nhưng có thể nói, toàn bộ tác phẩm của cô, bước ra từ khúc dạo đầu của Absalom, Absalom!
Absalom, Absalom! có thể sánh với Âm thanh và Cuồng nộ, và tôi không biết, có lời vinh danh nào cao hơn thế nữa, về nó!
Borges
Tuyệt!
Khen 1 tác phẩm của Faulkner, bằng 1 tác phẩm khác, cũng của Faulkner!
Đây cũng là đòn của Kim Dung, cho Vô Kỵ sử dụng, để đánh bại 1 nhà sư Thiếu Lâm, bằng chính võ công của Thiếu Lâm, và đúng cái môn võ công mà nhà sư nổi danh nhờ nó, trong 1 trận đánh kinh thiên động địa trên Quang Minh Đỉnh, để cứu cả một lũ Ngụy, tức Ma Giáo!
Đâu có thứ võ công nào khác, để mà đánh bại Ngài, ngoài võ công của chính Ngài!
Ẩn tàng trong giai thoại trên, là bí mật của sáng tạo: Mi muốn viết văn là phải kiếm ra vị Thầy của mi, và mi sẽ dùng chính môn võ công của Thầy mi dậy mi đó, để làm thịt Thầy! (1)
Gối đầu giường, ảnh hưởng, sư phụ & đệ tử…. Phùng Phật Sát Phật…  là theo nghĩa đó.
Độc ác như rắn rết mà là đệ tử của….  Kafka ư?


John Banville còn thử thay nghề viết truyện trinh thám với cái nick Benjamin Black. TLS số April 13 2012 có nhắc tới ông, trong sổ tay văn học, với cái tít Who’s who, và tiện thể còn nhắc đến cả 1 lô những nhà văn viết bằng những cái nick khác nhau, như Romain Gary, người đợp hai lần Goncourt, dù giải này quy định, chỉ 1 lần là đủ, khác Booker Prize của Anh.
Tin Văn đã từng đi một đường tưởng niệm Mai Thảo, khi ông dùng cái nick Nhị, để mần thơ.
Nhưng TTT không có cái may này. Trước khi thành danh với cái nick TTT, thì ông có vài cái nick, nhưng sau khi “chết tên” rồi, là thôi.
Chứng cớ, trong thư gửi đảo xa, ông kể, ông làm thơ tặng đảo xa, đăng báo Văn, ký nick khác, MT & Ông Vượng, chủ báo lắc đầu, no!
GCC thì nhiều nick quá. Lần trốn cái tên NQT tên sa đích văn nghệ, mượn tên của đứa cháu gái, Jennifer Tran, viết VHNT & Việt Báo online, "chấn động giang hồ", độc nhất có 1 tay phê bình gia BVP là nhận ra, vì quá rành những tác giả GCC đọc & trích dẫn [Steiner, Kafka, Bejamin… thí dụ]
Banville says that he started writing novels at the age of 12. His early attempts were "dreadful imitations" of Joyce's Dubliners; the opening line of one was, "The white May blossom swooned slowly into the open mouth of the grave".
Banville cho biết ông khởi sự viết văn khi 12 tuổi, và những bản văn đầu tay “bắt chước thê thảm, chết người” Những người dân thành phố Dublin của Joyce, thí dụ dòng mở ra 1 bản văn, "The white May blossom swooned slowly into the open mouth of the grave"
[tạm dịch, “Bông Tháng Năm, trắng toát, xỉu dần đi trong miệng huyệt mở rộng”]  
The past beats inside me like a second heart
All works of art are scar tissue.
Tác phẩm 'nghệ thuật' nào [của Gấu]  thì cũng như vết sẹo [ở trên tay cô bạn],
và quá khứ những ngày ở Sài Gòn là trái tim thứ nhì [ở trong Gấu].
Nó đập còn dữ dằn hơn trái tim thứ nhất.
Càng đập càng nhớ... vết sẹo! (1)
John Banville
“Even though I am now on the brink of old age, childhood is still a source of material," he [Banville] has commented.
Ngay bi giờ, sắp đi xa, Gấu, lâu lâu, mơ thấy thằng cu Gấu đang lúi húi đào trộm khoai ở đồng làng Thanh Trì, Quốc Oai, Sơn Tây!
Hay thấy đang đứng ở ngã tư Phan Đình Phùng & Lê Văn Duyệt, đợi, “đời của Gấu”.
Viết xong Cánh đồng bất tận, tôi thấy buồn, nặng nề và đau đớn ghê gớm, hệt như trút ra hết những gì mình mang bên trong. Chắc phải nghỉ ngơi lâu lắm, tôi mới quên được hết ấn tượng về những điều tàn nhẫn mà mình đã phải mô tả. Tôi đã động tới cái ác vì có nó, thì cái thiện, sự thương yêu, sự yếu ớt mong manh của những tình cảm tốt đẹp mới nổi lên được, để cho người ta nhìn thấy rõ hơn. Chỉ vậy thôi.
NNT
Đâu có thua gì Faulkner, khi trả lời phỏng vấn, tại sao viết "Khi tôi nằm hấp hối", As I Lay Dying: (2)

I took this family and subjected them to the greatest catastrophe which man can suffer - flood and fire, that's all.
Tôi lấy gia đình này làm đề tài và đẩy họ vào một thảm họa lớn lao nhất mà con người có thể chịu đựng - lũ lụt và lửa, chỉ có vậy.
Faulkner, Lion in the Garden
Cái “gia đình này”, đối với Nguyễn Ngọc Tư, có thể là cả Miền Nam của Bà sau 30 Tháng Tư 1975: Độc ác như thời tiết, như đất đai, như sông nước, như... Bắc Kít!
[Bundren family life, like the weather, like the land and the water, is elemental and merciless, especially so for the women]....

Camus có 1 câu cũng thú lắm, nếu đọc nó trong cùng 1 dòng với Pasternak [Người  ta đâu sống chỉ bằng bánh mì. Người ta sinh ra để sống, đâu phải để sửa soạn sống]: Nếu con người cần bánh mì, cần nhà ở, thì nó cũng cần một cái đẹp trong trắng làm bánh mì cho trái tim, "he also needs pure beauty which is the bread of his heart".






Comments

Popular posts from this blog

Hoàng Hạc Lâu

Bi Khúc

Quang Dũng