Camus par NL


Tình Yêu như Trái Phá

NB2. Có một câu nói ác, bảo Camus là triết gia của học sinh cấp ba, và Cioran bảo văn chương Camus là thứ văn chương tỉnh lẻ :p (đồng thời Sartre chẳng có gì đáng quan tâm cả). Cioran cũng là một cục đen hiểm ác, cực hiểm ác.
Blog NL
Không phải 1 câu, mà 1 cuốn sáchCamus, philosophe pour classes terminales
Sự kiện Cioran không khoái Camus, thì cũng đúng thôi, vì 1 bên là mặt trời, 1 bên là đêm đen; cả chuyện coi ông là triết gia của lớp chót bậc TH cũng đúng, vì cái thái độ đạo đức của ông, chỉ đám học sinh may ra còn chịu nổi, hay tin được.
Điều làm GNV điên cái đầu, là, cái ông Tẩy mũi tẹt, tại làm sao lại chọn cuốn La Chute để dịch ?
Chỉ đến khi thấy ông ta "về", và phán nhảm, thì Gấu mới vỡ ra là Người chẳng có thú tội gì hết :
Sự thú tội của Clamence vẽ lên chân dung 1 con người bị cắn rứt bởi tuyệt vọng, tội lỗi và ân hận vì đã vờ 1 em tự trầm.
Nhưng Clamence còn đưa 1 tấm gương cho những người muốn dòm vào đó, theo cái kiểu mà Nguyễn Huệ của NHT đã từng làm :
Hãy nhét cứt vào miệng chúng, để chúng nhận ra thân phận của chúng.
Trong NHT có cả ba, Clamence & Tướng Về Hưu & Nguyễn Huệ, là vậy !
Hà, hà !
 *
1956: Cuộc chiến Mít chưa hứa hẹn những điều khủng khiếp, và ông Tẩy thì chắc cũng mới chuồn qua Paris, hẳn thế?
Với riêng Gấu, phải đến khi ra được hải ngoại, thì mới nhìn ra sự thân quen giữa Clamence và Tướng Về Hưu!
Sa Đọa gióng lên hồi chuông báo tử cho những kẻ tưởng là giải phóng, hóa ra là ăn cướp, tưởng xây dựng thiên đàng, hóa ra địa ngục, là 1 nước Mít hậu chiến.
GNV
Mô phỏng:
La Chute sonne comme un adieu de l'auteur à ses propres illusions:
Sa Đọa gióng lên lời vĩnh biệt của tác giả với những ảo mộng của chính ông.
Face aux désordres et à la confusion du temps après 1975, j'ai  pensé avoir déjà vécu toute ma vie, le temps qui me restait était quelque chose en trop, je ne me donnais plus la peine d'y penser.  La désillusion était totale. En 1975, le nouveau régime m'envoyait en camp de rééducation avec mes amis « de la même fête et dans le même bateau », nous quittions la plaine pour les monts avec calme et indifférence, sans désespoir et sans espoir.
J'ai pensé « disparaître » sans espoir de retour, pourquoi pas comme le déchet emporté par l'inondation de l'histoire. Mais je me trompais.
Đối diện với hỗn loạn, tình trạng mơ mơ hồ hồ thời gian sau 1975, tôi có cảm tưởng đã sống hết đời tôi, quãng còn lại chỉ là dư thừa, tôi chẳng để ý tới nữa. Ảo vọng là hoàn toàn. Năm 1975, chế độ mới đưa tôi đi trại cải tạo, cùng với bạn bè của tôi, "cùng hội, cùng thuyền"; chúng tôi rời đồng bằng lên vùng rừng núi, dửng dưng, bình thản, không tuyệt vọng cũng không hy vọng. Tôi đã nghĩ mình "biến mất", chẳng mong ngày trở lại, như bọt bèo trong cơn lũ lịch sử, tại sao không. Nhưng tôi đã lầm.
TTT: 
La poésie entre la guerre et le camp
Thơ giữa chiến tranh và trại tù
Ui chao, chẳng lẽ đây là giấc đại mộng của những anh nhà quê Bắc Kít, những anh Cu Sài, xẻ dọc Trường Sơn, hy vọng vô được nước Xề Gòn, kiếm tí chiến lợi phẩm, về làng cũ, xây cái nhà gạch nho nhỏ, sửa sang phần mộ cho ông cụ, cưới một em ở Xóm Đoài, Xứ Đoài mây trắng lắm?, và cái anh chàng Tướng Về Hưu, Jean Baptiste Clamence, sau khi xây dựng xong Địa Ngục, bèn đi vào miền Sa Đọa, The Fall, tên một tác phẩm của Camus, sám hối, và trong một khoảnh khắc trầm thống, rống lên như một con quỉ, Quỉ Bắc Kít, trong một cuộc độc thoại nội tâm:
“Ôi, mặt trời Bắc Kịt, ôi bãi biển Đồ Sơn, ôi những hòn đảo Hạ Long của những trận gió thương mại, ôi những hồi ức của thuở thanh niên, chúng mới làm cho đám Bắc Kít chúng ta chán chường làm sao!”
[‘Oh, sun, beaches, islands of trade winds, memories of youth that make us despair’].


Cái mẩu tóm tắt La Chute, trên,  là từ số đặc biệt về Camus, của tờ ML, hors-série. Tờ này làm tới hai số, hoặc có thể hơn, về Camus, vì GNV có hai số về Camus.
**
&

Vérité, liberté, humanité
Par MINH TRAN HUY
Si l'idée d'une panthéonisation d'Albert Camus à l'occasion du cinquantenaire de sa mort a fait couler beaucoup d'encre, de Jeanyves Guérin (1) à Michel Onfray, tous s'accordent cependant sur une chose: les mérites de l'œuvre et de la trajectoire d'un homme d'exception. La popularité de l'écrivain est immense, en France et à l'étranger; André Brink (2) ou Imre Kertész le citent comme une de leurs références, on ne compte plus le nombre de rues à son nom en Europe de l'Est, L'Étranger est l'un des romans les plus lus dans le monde. Une unanimité qui fait oublier qu'Albert Camus fut autrefois contesté des deux côtés de l'échiquier politique, y compris lors de ce qui aurait dû être une apothéose -l'obtention du prix Nobel fut accueillie avec hargne par les Kléber Haedens, Jacques Laurent et autres Lucien Rebatet.
L' écrivain fut pareillement l'objet, lorsque L'Homme révolté renvoya dos à dos les « idéologies meurtrières» du nazisme et du marxisme tout en critiquant le libéralisme, d'acerbes formules allant de la «morale de Croix-Rouge» (Francis Jeanson) à 1'« incompétence philosophique» (Jean-Paul Sartre). On le taxa d'angélisme et de tiédeur alors qu'il tentait de « penser les limites », ainsi que le rappelle Alain Finkielkraut dans ce hors-série qui entend éclairer les différents visages d'un intellectuel engagé à qui l'Histoire a donné raison, d'un Français d'Algérie qui se situait « à mi-distance du soleil et de la misère », d'un écrivain qui s'est voulu fidèle à la beauté mais aussi aux humiliés: romancier, auteur de théâtre, essayiste, journaliste, Albert Camus fut un homme de son temps qui sut aussi aller contre son temps. Contre les« noces sanglantes de la répression et du terrorisme », les« utopies absolues» légitimant la violence - et pour une justice incarnée, dans la conscience permanente du possible, du concret, du présent.
«Définir les conditions d'une politique modeste, c'est-à-dire délivrée de tout messianisme, débarrassée de la nostalgie du paradis terrestre » : tel était le but, dont l'audace n'apparaît qu'aujourd'hui, d'un humaniste qui rechercha toujours l'équilibre des contraires, et, jusqu'au cœur même de la révolte, la mesure au sens grec du terme. Non pas la modération ou la mollesse, mais une tension alimentant aussi bien la dénonciation des tyrans que celle des révolutionnaires extrémistes, rejetant la tentation nihiliste sans pour autant se faire la servante d'une abstraction idéologique. La vérité, qu'elle soit de droite ou de gauche, voilà tout ce qui importait à ce penseur du midi qui fit le choix de l'homme plutôt que de son concept, alliant dans sa quête résistance à l'oppression et refus du mensonge, attention à l'Histoire mais aussi au simple bonheur d'être, et offrit dans son discours de Stockholm l'une des définitions les plus justes du mouvement même de son écriture, et plus encore de sa vie: « Celui qui, souvent, a choisi son destin d'artiste parce qu'il se sentait différent apprend bien vite qu'il ne nourrira son art, et sa différence, qu'en avouant sa ressemblance avec tous. L'artiste se forge dans cet aller-retour perpétuel de lui aux autres, à mi-chemin de la beauté dont il ne peut se passer et de la communauté à laquelle il ne peut s'arracher. »
(1) Qui a piloté le remarquable et très complet Dictionnaire Albert Camus, éditions Robert Laffont. « Bouquins» 092 p .. 30 €).
(2) Son admiration pour Albert Camus imprègne notamment ses mémoires, Mes bifurcations. traduits de l'anglais (Afrique du Sud) par Bernard Turle éd. Actes Sud. 544 p., 24.80 €. 
LE MAGAZINE LITTÉRAIRE HORS-SÉRIE no 16

Comments

Popular posts from this blog

Hoàng Hạc Lâu

TDT

Bi Khúc