Rain in Hell



Mưa Ở Địa Ngục


Đó là bài hát hắn nghe hắn hát
Hắn nghe “bốp” 1 phát, trước khi đụng khối bê tông
Đếch có nước ở hồ bơi
Hắn không thể ngưng mình, đúng lúc.

Một bữa, khi hắn đợi ánh sáng thay đổi
Và, bất thình lình, mưa bắt đầu rơi
Và ngay lập tức mặt trời ló ra
Hắn nhìn thấy cầu vồng máu

Hắn quá xốn xang.
Tung, toé!
Hắn nhảy ùm 1 phát
Cái nhảy cầu không suy tư

Làm gì có nước ở trong hồ
Hắn nghe tung tóe
Trước khi đụng khối bê tông
Gosh –

Từ tốt đến giường
Tốt như chết!
Bạn ngửi ra mưa trước khi mưa tới
Bạn ngửi ra cái lạnh mát trong sạch, xuyên thủng cái nóng

Hắn có cái máy điều hòa không khí đang chạy
Nhưng hạ cửa xe xuống, trở về lại thành phố
Đó là chuyện đời hắn
Hắn ngửi mưa trước khi mưa rơi

Nửa đêm
212: mã số vùng của tình yêu
Bài thơ hắn đang viết
Để cánh tay của nó quanh cổ hắn

Tại sao viết thơ?
Làm gì có mưa ở địa ngục
Như vậy, tại sao mở ô, dù?
Đó là bài ca hắn thấy mình hát.
NQT dịch


RAIN IN HELL 

That was the song he found himself singing.
He heard a splash before he hit the concrete.
There was no water in the pool.
He couldn't stop himself in time.

One day, while he was waiting for the light to change,
And suddenly it began to rain,
And all at once the sun came out,
He saw a rainbow of blood.

He was so excited.
Splash.
That he dove off
The diving board without a thought.

There was no water in the pool.
He heard a splash
Just before he hit the concrete.
Gosh-

From good in bed
To as good as dead!
You smell the rain before it comes.
You smell the clean cool pierce the heat.

He has the air-conditioning on
But keeps the car windows open driving back to town.
It is the story of his life.
He smells the rain before it falls.

It was the middle of the night
In 212, the area code of love.
The poem he was writing put
Its arms around his neck.

Why write a poem?
There isn't any rain in hell
So why keep opening an umbrella?
That was the song he found himself singing.

Frederic Seidel: Poems 1959-2009

PLUIE EN ENFER

C'était la chanson qu'il se trouvait chanter.
Il a entendu une éclaboussure avant de frapper le béton.
Il n'y avait pas d'eau dans la piscine.
Il ne pouvait pas s'en empêcher à temps.

Un jour, alors qu'il attendait que la lumière change,
Et soudain il a commencé à pleuvoir,
Et tout à coup le soleil est sorti,
Il a vu un arc-en-ciel de sang.

Il était tellement excité.
Éclaboussure.
Qu'il a plongé
Le plongeoir sans une pensée.

Il n'y avait pas d'eau dans la piscine.
Il a entendu une éclaboussure
Juste avant qu'il frappe le béton.
Gosh-

De bon au lit
Pour autant que mort!
Vous sentez la pluie avant qu'elle ne vienne.
Vous sentez la fraîcheur frapper la chaleur.

Il a l'air conditionné
Mais garde les fenêtres de la voiture ouvertes pour rentrer en ville.
C'est l'histoire de sa vie.
Il sent la pluie avant qu'elle ne tombe.

C'était le milieu de la nuit
En 212, l'indicatif régional de l'amour.
Le poème qu'il écrivait mis
Ses bras autour de son cou.

Pourquoi écrire un poème?
Il n'y a pas de pluie en enfer
Alors pourquoi continuer à ouvrir un parapluie?
C'était la chanson qu'il se trouvait chanter.

Lũ Đầu Đen Á Châu Ngỏm

Khi những cánh rừng bị thiêu huỷ, bóng đen của nó còn lại
Tro của người đi bộ vĩ đại đi theo những sở hữu chủ
Vĩnh viễn
Chẳng có gì họ sẽ tới, là thực
Nhưng chẳng được lâu
Theo dòng nước
Như những con vịt, vào thời của những con vịt
Hồn ma làng xóm vạch 1 đường trên bầu trời
Tạo 1 choạng vạng mới

Mưa rơi vô những cặp mắt mở to của những người đã chết
Nữa, nữa, với thanh âm vô ích của nó
Khi con trăng tìm ra họ, họ có màu của mọi trò

Đêm biến mất như bụi mờ xanh mơ
Nhưng chẳng làm sao chữa lành
Người chết bỏ đi như xanh lơ, như bụi mờ
Máu biến mất vào trong những trang trại, làng xóm tẩm độc
Nỗi đau thương, cơn nhức nhối thì ở nơi chân trời
Còn hoài. Ở lại. Mãi mãi.
Ở bên trên hòn đá mùa màng
Chúng là những chuông giấy
Gọi cái không gọi, cái hư vô, cái chẳng còn sống nữa.

Những sở hữu chủ chuyển dịch nơi nơi
Dưới Cái Chết, ngôi sao của chúng
Như những cột khói, chúng đi trước, vô những cái bóng
Như những ngọn lửa mỏng dính không ánh sáng
Chúng, với không quá khứ
Và lửa tương lai độc nhất của họ

NQT dịch

The Asians Dying 

When the forests have been destroyed their darkness remains
The ash the great walker follows the possessors
Forever
Nothing they will come to is real
Nor for long
Over the watercourses
Like ducks in the time of the ducks
The ghosts of the villages trail in the sky
Making a new twilight

Rain falls into the open eyes of the dead
Again again with its pointless sound
When the moon finds them they are the color of everything

The nights disappear like bruises but nothing is healed
The dead go away like bruises
The blood vanishes into the poisoned farmlands
Pain the horizon
Remains
Overhead the seasons rock
They are paper bells
Calling to nothing living

The possessors move everywhere under Death their star
Like columns of smoke they advance into the shadows
Like thin flames with no light
They with no past
And fire their only future

The Essential W.S. Merwin

Les asiatiques mourant

Quand les forêts ont été détruites, leur obscurité reste
Les cendres du grand marcheur suivent les possesseurs
Pour toujours
Rien de ce qu'ils vont venir est réel
Ni pour longtemps
Au fil des cours d'eau
Comme des canards au temps des canards
Les fantômes des villages traînent dans le ciel
Faire un nouveau crépuscule

La pluie tombe dans les yeux grands ouverts des morts
Encore une fois avec son son inutile
Quand la lune les trouve, elles sont la couleur de tout

Les nuits disparaissent comme des bleus mais rien n'est guéri
Les morts s'en vont comme des bleus
Le sang disparaît dans les terres agricoles empoisonnées
Douleur à l'horizon
Restes
Au dessus du rock des saisons
Ce sont des cloches en papier
Ne rien appeler à vivre

Les possesseurs se déplacent partout sous la mort leur étoile
Comme des colonnes de fumée, ils avancent dans l'ombre
Comme de fines flammes sans lumière
Ils sans passé
Et tirer leur seul avenir

 



Comments

Popular posts from this blog

TDT

New Tin Văn

Hoàng Hạc Lâu