Borges @ 80


 


Nguyễn Quốc Trụ
NÓI CHUYỆN THƠ
Jorge Luis Borges


           "Nói cho cùng, tất cả chúng ta đều cố gắng là thi sĩ. mặc dù những thất bại, tôi vẫn tiếp tục muốn là một thi sĩ." Borges mở đầu buổi nói chuyện, cho một số sinh viên tại đại học Columbia, vào mùa xuân năm 1971. Ông lúc này đã mù, và phải nhờ đến người bạn, và cũng là người chuyên dịch ông.
'Tôi nghĩ những nhà thơ trẻ thích bắt đầu bằng một điều cực kỳ khó khăn - thơ tự do. Và đây là một lỗi lầm lớn. Nếu bạn tính làm một bài sonnet, thí dụ vậy, bạn có ảo tưởng, thực sự đã có một cái gì đó: cái khung của bài thơ. Cái khung có trước, cho dù dòng thơ đầu tiên chưa được viết ra. Rồi bạn chỉ việc kiếm từ có vần có điệu. Chúng làm mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn. Nói như vậy, không có nghĩa là tôi thích một bài sonnet, hơn là một bài thơ tự do. Nếu bạn lấy một vài trang đẹp nhất, trong Lá Cỏ của Whitman, rồi hỏi tôi, liệu chúng có hơn, một bài sonnet của Shakespeare, hay Keats, hoặc Yeats, tôi cho một câu hỏi như vậy, là vô nghĩa. Tôi thích cả hai. Tại sao lại phải bỏ một, nếu có thể giữ cả ? Nhưng sự khác biệt là như thế này: Nếu bạn làm một bài thơ vần, bạn đã có sẵn một vóc dáng, và người đọc có thể tham dự vào vóc dáng đó; trong lúc nếu bạn làm thơ tự do, mọi chuyện là do bạn. Kỹ năng của bạn phải cao. Lẽ dĩ nhiên, nếu bạn là Walt Whitman, nội lực thâm hậu chỉ muốn bật ra thôi, bạn cứ làm thơ tự do, và đây là một điều đáng làm. Chuyện này đâu xẩy ra cho nhiều người trong số chúng ta. Tôi đã gặp phải lỗi lầm này, khi in tập thơ đầu. Tôi đọc Whitman, và tưởng chuyện dễ. Bởi vậy lời khuyên của tôi đối với những nhà thơ trẻ, là hãy bắt đầu bằng những thể thơ cổ điển; chỉ sau đó, mới trở thành cách mạng được. Tôi nhớ một nhận xét của Oscar Wilde - một nhận xét đầy chất tiên tri. Ông nói: "Nếu không có thơ vần, chúng ta đều trở thành thiên tài". Đây là chuyện đang xẩy ra ngày hôm nay, ít ra là tại xứ tôi. Hầu như ngày nào tôi cũng nhận được những cuốn thơ của những thiên tài hoặc mấp mí thiên tài: nghĩa là những cuốn thơ hình như chẳng có một chút ý nghĩa nào đối với tôi. Ngay cả những ẩn dụ ở trong đó, tôi không thể nào nhận ra được. Ẩn dụ đề nghị một nối kết, giữa hai sự vật. Nhưng trong những cuốn thơ đó, tôi chẳng nhìn thấy bất cứ một nối kết nào. Tôi đã phạm vào lầm lẫn thiên tài như vậy, trong tập đầu, tập hai cũng vậy, và có lẽ ngay cả tập ba; và rồi tôi khám phá ra, có một điều gì thực sự huyền ảo, và không thể nào cắt nghĩa được, về một bài sonnet: Nó có thể đẻ ra đủ thứ, đủ loại thơ, khác nhau.
Nói tóm lại điều tôi muốn nói ở đây: chạy đường dài, để phá luật, bạn phải biết về luật. Chuyện hiển nhiên, nhưng mặc dù hiển nhiên, có vẻ như hầu hết các nhà thơ trẻ của chúng ta không hiểu - thì hãy để riêng mấy nhà thơ già ra một bên, như tôi chẳng hạn. Còn một chuyện lý thú nữa là: tại sao tôi thỉnh thoảng lại làm thơ tự do, đôi lúc lại thơ vần. Những bài thơ của tôi đã được làm ra như thế nào? Tôi có thể đang xuống phố, hay đang lên xuống cầu thang ở Thư viện Quốc gia - Tôi đang nghĩ tới Buenos Aires - và bất thình lình tôi biết có chuyện gì đó sắp sửa xẩy ra... Rồi thì tôi ngồi xuống. Tôi để tâm đến điều sắp xẩy ra. Có thể là một câu chuyện, có thể một bài thơ, hoặc tự do, hoặc thơ vần. Điều quan trọng, lúc này, là đừng can thiệp một cách thô bạo. Chỉ sợ tham vọng, không sợ Thần Thi, Bà Chúa Thơ, hoặc tiềm thức - nếu bạn thích huyền thoại học hiện đại - đến với chúng ta. Rồi thì, đúng lúc - nếu tôi đừng tự lừa rối, hoặc đừng làm rối mù mọi chuyện - tôi có được một dòng, có khi chỉ một ý niệm mơ hồ - một "thoáng nàng", có lẽ vậy - nàng thơ. Rồi một chút mờ mờ ảo ảo đó tụ lại, và tôi nghe có tiếng nói trong tôi. Nhịp của tiếng nói đó cho biết, có nên làm thơ, rằng đây là một bài thơ tự do, hay thơ vần.
Còn một cách khác, tôi nghĩ nó không tốt, đó là có rắp tâm trước. Trò này, tôi cũng đã thử rồi. Cách đây một hai ngày, bất thình lình, tôi nhận ra mình có một rắp tâm, về một bài thơ. Nhưng hãy còn quá sớm để làm bất cứ điều gì. Phải đợi thời gian, trái chín sẽ rụng thôi. Tất cả chỉ để nói lên một điều: Thi ca được trao cho thi sĩ. (Poetry is given to the poet). Tôi không nghĩ, một nhà thơ cứ thích là ngồi xuống, rồi viết. Nếu anh ta làm vậy, chẳng có gì ra hồn được viết ra. Tôi làm hết sức, để thoát khỏi sự cám dỗ đó. Tôi vẫn thường tự hỏi, với sự kinh ngạc thực sự, làm sao tôi viết nổi một vài tập thơ! Nhưng tôi thường để những bài thơ kỳ kèo, nài nỉ tôi, và đôi lúc, chúng thật bướng bỉnh, trơ trẽn. Rồi tôi nghĩ, "nếu mình không viết ra, nó cứ làm khổ mình hoài; cách tốt nhất là viết nó ra". Mỗi lần như vậy, tôi theo đúng lời khuyên của Horace, là để nó qua một bên, chừng một tuần lễ, hay mười ngày. Và, lẽ tự nhiên, tôi kiếm ra những lỗi, và tôi sửa. Sau vài lần như vậy, tôi biết là không thể nào làm tốt hơn. Nếu tiếp tục, chỉ làm hại bài thơ. Thế là tôi in nó.
In thơ hả? Tại sao? Alfonso Reyes, nhà thơ Mexico vĩ đại nhất, nói với tôi: "Chúng ta phải in những gì chúng ta viết, bởi vì nếu chúng ta không làm, chúng ta cứ tiếp tục thay đổi nó, với đủ mọi biến điệu, và chúng ta chẳng thể nào đi xa hơn điều này." Bởi vậy, điều tốt nhất, là in ra, rồi lo chuyện khác.
Tôi biết rất ít, về tác phẩm của riêng tôi, theo kiểu nằm lòng, bởi vì, tôi không thích điều tôi viết. Sự thực, tôi cảm thấy, cái cõi riêng của mình được diễn tả thật tuyệt vời, ở thơ "người", bởi vì tôi biết mọi sở đoản của tôi, mọi khiếm khuyết của tôi; tôi biết dòng thơ "lạ" này yếu, và cứ như thế. Tôi đọc thơ người theo kiểu khác: không bao giờ nhìn thật gần. Và bây giờ, trước khi chúng ta đọc một bài thơ của tôi, có ai có câu hỏi nào không? Tôi rất cảm ơn những câu hỏi, và cũng nên nói thêm, tôi không thích sự nhất trí.'
Q: Về thơ vần, ông có nghĩ là, tất cả tùy thuộc vào loại thơ mà ông đã trưởng thành?
Borges: Câu hỏi thật kỳ cục. Có vẻ như ông có quá ít tò mò, về quá khứ. Nếu ông viết bằng tiếng Anh, thì đó là một truyền thống. Ngôn ngữ, tự thân, là một truyền thống. Tại sao không theo truyền thống thật dài, thật xuất sắc của những nhà thơ sonnet, thí dụ vậy? Tôi nhận thấy thật lạ lùng, khi bỏ qua thể thơ (form). Nói cho cùng, ít nhà thơ làm thơ tự do hay, nhưng rất nhiều nhà thơ bậc thầy, ở những thể thơ khác. Ngay cả Cummings cũng có nhiều bài sonnet thật tuyệt. Tôi có thuộc một số bài. Tôi không nghĩ ông có thể gạt bỏ tất cả quá khứ. Nếu làm vậy, ông sẽ gặp rủi ro khi khám phá ra những điều đã được khám phá rồi. Điều này là do sự thiếu tò mò. Chẳng lẽ ông hết tò mò về quá khứ? Không tò mò về những bạn thơ thế kỷ này? Thế kỷ trước? Thế kỷ 18? John Donne chẳng là gì đối với ông? Hay là Milton? Thật sự tôi không thể, ngay cả để "bắt đầu", trả lời câu hỏi của ông.
Q: Liệu chúng ta có thể đọc những nhà thơ quá khứ, rồi diễn giải những gì học được, bằng thơ tự do?
Borges: Điều tôi không hiểu được, đó là, tại sao ông lại muốn bắt đầu, bằng một điều thật khó, thí dụ như thơ tự do?
Q: Nhưng tôi thấy không khó.
Borges: Well, tôi không biết thơ bạn làm, thật khó mà nói. Vấn đề có thể là, làm thì dễ, nhưng đọc thì khó. Trong hầu hết trường hợp, có sự lười biếng. Lẽ dĩ nhiên, có những ngoại lệ. Thí dụ Whitman, Sandburg, Edgar Lee Masters. Một trong những lập luận của thơ tự do, đó là người đọc biết, đừng trông mong lấy ra được từ đó một thông tin nào; hoặc phải tin vào một điều gì đó - khác với một trang thơ xuôi, vốn thuộc về văn chương của tri thức, chứ không phải văn chương của quyền lực.
Q: Ông có nghĩ, có thể tạo ra những thể thơ mới?
Borges: Lý thuyết có thể đúng. Nhưng điều tôi muốn nói, và chưa nói ra được, đó là bắt buộc phải có một cấu trúc; và nếu bắt đầu bằng một cấu trúc hiển nhiên, như vậy vẫn dễ dàng hơn. Phải có cấu trúc thôi. Mallarmé có nói: "Chẳng có cái gọi là thơ xuôi (prose); đúng vào lúc bạn lo tới nhịp điệu, nó trở thành thơ (verse)." Stevenson cũng nói đại khái như vậy: "Sự khác biệt giữa thơ và thơ xuôi là do khi bạn đang đọc" - ông muốn nói những thể thơ cổ điển - "bạn mong một điều, thế là bạn có".
Nói ngắn gọn, sự khác biệt giữa một sonnet của Keats, với một trang thơ tự do của Whitman, thí dụ vậy, đó là bài sonnet, cấu trúc của nó hiển nhiên - thành ra dễ làm - trong khi nếu bạn thử làm một bài thơ như "Children of Adams" hay "Song of Myself", bạn phải tự mình bịa đặt ra một cấu trúc của riêng bạn. Không có cấu trúc, bài thơ sẽ chẳng có hình dạng, và tôi nghĩ, nó chẳng thể chịu nổi một chuyện như thế đâu. Vậy thì bây giờ, hãy làm một bài. Có lẽ chúng nên bắt đầu với "Tháng Sáu 1968". Bài thơ có tính tự thuật, ít ra tôi nghĩ, nó là vậy. Tôi cảm thấy hạnh phúc, khi đang viết bài thơ, nhưng có thể tôi không cảm thấy hạnh phúc, như tôi đã nghĩ. Bạn tôi, Norman Thomas di Giovanni sẽ đọc bản dịch của ông, và chúng ta sẽ ngừng để bàn luận, ở một số đoạn.
Tháng Sáu 1968
Vào một buổi chiều vàng,
hay trong sự lặng lẽ mà biểu tượng của nó
có thể là một buổi chiều vàng,
một người đàn ông xếp sách của anh ta
lên kệ,
cảm thấy mùi giấy, da thuộc, vải bìa
và sự hài lòng
do thói quen, và sự gọn gàng, ngăn nắp.
Stevenson và ông bạn Scotsman kia, Andrew Lang,
bằng con đường huyền ảo, sẽ tiếp tục câu chuyện dang dở,
bởi những đại dương, và cái chết,
và Alfonso Reyes sẽ hài lòng được chia sẻ một khoảng không gần kề với Virgil.
(Sắp xếp thư viện là làm nghệ thuật phê bình,
theo đường lối thầm lặng và khiêm tốn).
Người đàn ông, vốn mù,
biết ông ta chẳng còn đọc được
những cuốn sách mà ông ta đang xếp,
chúng cũng chẳng giúp ông viết cuốn sách,
cuối cùng có thể biện minh ông ta,
nhưng vào buổi chiều có lẽ vàng,
ông ta mỉm cười với số mệnh kỳ lạ của mình
và cảm thấy một hạnh phúc đặc biệt,
đến từ những điều mà chúng ta quen biết và yêu thương.

Di Giovanni:
June 1968
On a golden evening,
or in a quietness whose symbol
might be a golden evening...


Borges: Trọn điểm của bài thơ, đó là niềm hạnh phúc khác thường tôi cảm thấy, khi trở lại với những cuốn sách của riêng tôi và xếp nó lên kệ. Tôi tự nghĩ thật khéo léo khi làm việc đó. Sự kiện người đàn ông (người đó là tôi) mù thấp thoáng suốt bài thơ.
Di Giovanni: Tôi phải nhắc nhở bạn một điều, chuyện này xẩy ra ngay sau khi bạn trở về sau một năm ở Harvard, và bạn đang có phòng ở mới. Trở lại với những cuốn sách của bạn sau một thời gian vắng mặt dài chắc chắn là thú vị lắm.
Borges: Lẽ dĩ nhiên. Tôi vừa trở lại thành phố quê hương. Tôi lại được sờ vào những cuốn sách. Tôi cảm thấy chúng, tuy nhiên không còn đọc được.
Di Giovanni:
On a golden evening,
or in a quietness whose symbol
might be a golden evening...
Borges: Đây loáng thoáng sự mù loà. Tôi đâu biết chiều vàng, bởi vì tôi đâu nhìn thấy. Tôi nói gần nói xa đến sự mù lòa. Hạnh phúc, và sự mù loà là những đề tài chính của bài thơ. Bạn thấy đấy, "in a quietness whose symbol might be a golden evening". Nói cho cùng, tôi chỉ biết, trời bữa đó xấu.
Di Giovanni:
...a man sets up his books
on the waiting shelves,
feeling the parchment and leather and cloth...
Borges: Bạn lại thấy ở đây, sự gợi ý, người đàn ông mù. Nhưng bạn không biết hiển nhiên điều đó. Không có gì được nói, về những cuốn sách, hay những dòng chữ, Người đàn ông đang vui với những cuốn sách, không phải bằng mắt, nhưng với những ngón tay.
 
Di Giovanni:
... and the satisfaction given by
the anticipation of a habit
and the establishment of order

 
Borges: Khi tôi xếp những cuốn sách lên kệ, tôi biết rồi tôi sẽ nhớ chỗ, và ngày này sẽ đứng đây, cho bao nhiêu ngày hạnh phúc sẽ tới. Còn một điều nữa, đây chỉ là bắt đầu, việc làm hôm nay sẽ tiếp tục, tương lai là chuyện có thể, biết đâu đấy...
 
Di Giovanni:
Stevenson and that other Scotsman, Andrew Lang...
 
Borges: Họ là những tác giả ruột của tôi, và là bạn.
 
Di Giovanni:
... will here pick up again, in a magic way,
the leisured conversation broken off
by oceans and by death...

 
Borges: Bởi vì Stevenson chết trước Andrew Lang. Andrew Lang đã viết một bài tuyệt vời về ông ta, trong cuốn sách Những Cuộc Phiêu Lưu Giữa Những Cuốn Sách. Họ là bạn bè gắn bó với nhau, và tôi nghĩ họ đã có những lần trò chuyện văn chương thật sôi nổi. Tôi thật sự yêu mến, như thể quen biết họ. Nếu phải làm một bản danh sách những bạn bè, tôi sẽ để cả hai vào. Mặc dù có thể họ không ưa bộ vó của tôi, nhưng chắc là cũng khoái, khi nghĩ họ được yêu mến, qua tác phẩm, bởi một tay Nam Mỹ làng nhàng, chia lìa hẳn với họ, về thời gian và nơi chốn.
 
Di Giovanni:
... and Alfonso Reyes surely will be pleased
to share space close to Virgil.

 
Borges: Tôi nhắc tới Alfonso Reyes bởi vì ông là một trong những người bạn tuyệt vời tôi có được. Khi tôi còn là một thanh niên ở Buenos Aires, Reyes tiên đoán tôi sẽ là một nhà thơ. Nên nhớ, ông ta đã thực sự nổi tiếng. Đã làm mới văn xuôi Tây Ban Nha, và là một nhà văn rất tuyệt vời. Tôi nhớ tôi thường gửi bản thảo cho ông, và ông đọc, không chỉ những gì đã được viết ra, mà luôn cả những gì tôi toan tính viết. Virgil được nhắc tới, bởi vì ông ta đứng thế cho thơ ca. Chesterton, một nhà hiền giả khôn ngoan đã nói về một người bị buộc tội bắt chước Virgil, rằng món nợ đối với Virgil là món nợ đối với thiên nhiên. Đây không phải là vấn đề đạo văn. Virgil có ở đây, như có ở mọi thời. Nếu chúng ta lấy ra một dòng thơ của Virgil, chúng ta nên nói là chúng ta lấy một dòng từ mặt trăng, từ bầu trời, hoặc từ cây cối. Và lẽ dĩ nhiên, tôi biết Reyes, ở thiên đường riêng, ông ta sẽ hài lòng khi thấy mình cận kề Virgil. Dù sao, tôi nghĩ sự sắp xếp những cuốn sách trong thư viện - theo đường hướng dung hòa, khiêm tốn nhất - là một loại phê bình văn học.
 
Di Giovanni: Thì cũng vẫn những dòng đó, trong bài thơ, Borges... (To arrange a library is to pratice, in a quiet and modest way, the art of criticism.)
 
Borges: Đúng vậy, tôi thật sự không thể bịa đặt. Tôi lại rớt trúng nhà văn nho nhỏ Nam Mỹ, Borges.
 
Di Giovanni:
The man, who is blind...
 
Borges: Bây giờ bạn biết rõ sự kiện người đàn ông mù. Chúng ta có thể gọi đây là nhóm chữ chủ yếu, sự kiện trung tâm - ý nghĩ về hạnh phúc trong sự mù lòa. Tôi không nói người đàn ông thì mù, nói vậy quá sỗ sàng, quá khẳng định. Nhưng, "tiện đây, nghe qua rồi bỏ, ông ta mù", nói như vậy hiệu quả hơn, tôi nghĩ vậy. Đó là một giọng nói khác. Như thể cực chẳng đã, bạn phải đưa ra chi tiết đó.
 
Di Giovanni:
... knows that he can no longer read
the handsome volumes he handles
and that they will not help him write
the book which in the end might justify
him...

 
Borges: Vào lúc đó, tôi có quá nhiều kế hoạch viết. Tôi hy vọng viết một cuốn về Cổ Thi Anh, và có lẽ một cuốn tiểu thuyết, hay một tập truyện. Cùng lúc, tôi nghi ngờ, liệu sau cùng tôi có thể làm được như vậy. Dù sao những toan tính, tôi muốn nói, những cuốn sách đó, cũng là một sự khuyến khích mang tính bạn bè.
 
Di Giovanni: Nhưng bạn đã viết hai cuốn sách, kể từ bài thơ này.
 
Borges: Well, I am sorry. Tôi xin lỗi. Tôi không thể tránh được, ba chuyện viết lách - đúng là một thói quen xấu! Tôi có một câu chuyện nhỏ, không thể kể với tất cả nhưng với từng người thì được, chuyện tâm tình mà. Tôi nhớ đã nói về một ngọn lửa xưa của tôi. Nàng là một người đàn bà đẹp nhất Buenos Aires. Tôi yêu nàng, nhưng nàng luôn luôn ruồng rẫy tôi. Lần đầu tiên, nàng làm một cử chỉ, có nghĩa như vầy: "Không! Đừng đề nghị chuyện hôn nhân với tôi". Khi mọi chuyện đã kết thúc, giữa hai đứa có cả kho chuyện cười. Một lần tôi bảo bà ta: "Chúng mình quen nhau vậy là đã lâu lắm rồi, nào bây giờ..." Tôi đang tính đổi qua giọng cải lương. Thế là bà ta nói: "Không, tôi chỉ là một thói quen xấu." Và tôi có thói quen xấu viết lách. Tôi không thể ngừng được.
 
Di Giovanni:
... but on this evening that perhaps is golden...
 
Borges: Một nhắc nhở khác, về sự mù lòa.
 
Di Giovanni:
... he smiles at his strange fate
and feels that special happiness...

 
Borges: Bởi vì mù và cảm thấy thích thú vì sở hữu những cuốn sách là một số mệnh lạ lùng.
 
Di Giovanni:
... which comes from things we know and love.
 
Borges: Cả bài thơ nói chung, mang tính tự thuật. Nên thử lần nữa, trên cùng kinh nghiệm. Nhưng lần này, tôi nói, "mình sẽ phóng thêm ra, và quên hẳn bản thân mới được; một chuyện thần tiên, hay ngụ ngôn - có lẽ theo kiểu Kafka." Tôi thì tham vọng cùng mình, và bây giờ vẫn vậy! Dù sao cuối cùng tôi cũng viết được một bài thơ Trung Hoa dởm. Bạn thấy, đây là một bài thơ Trung Hoa, vì rất nhiều chi tiết. Vẫn kinh nghiệm "June 1968", đây là một hóa thân. Độc giả tình cờ có thể không thấy. Nhưng tôi biết chúng là một - lời nói danh dự.
Người Giữ Những Cuốn Sách
Sừng sững nơi đây: Những khu vườn, những miếu đền và lý do của những miếu đền;
đúng: âm nhạc, đúng: những từ;
hình sáu điểm sáu mươi-bốn; những buổi lễ; chúng là sự uyên thâm độc nhất
ông trời dành cho con người;
sự dẫn dắt của vị thượng hoàng
mà luật lệ tuyệt hảo đã được phản chiếu trong vũ trụ,
vốn phản chiếu người,
cho nên những con sông giữ lấy bờ
và những cánh đồng từ bỏ trái của chúng;
thấp thoáng bóng kỳ lân bị thương,
một kỷ nguyên đóng lại;
những luật pháp thiên thu bí ẩn;
sự hài hòa của thế giới.
Những điều này, hay ký ức của chúng thì ở đây trong những cuốn sách,
tôi ngắm chúng trong ngọn tháp của tôi.
Trên những con ngựa bờm xờm,
người Mông cổ từ miền Bắc đổ xuống,
làm cỏ những binh đoàn
được Thiên Tử ra lệnh trừng phạt tội phạm thượng của họ.
Họ cắt cổ, đưa lên dàn hỏa,
giết kẻ dữ, người lành,
giết kẻ nô lệ bị xiềng vào cửa căn nhà người chủ,
sử dụng đàn bà rồi ruồng bỏ.
Và cứ thế họ phi ngựa về phương Nam,
ngây thơ như hổ báo,
độc ác như dao găm.
Hừng đông, cha của cha tôi đã cứu những cuốn sách.
Bây giờ chúng ở trong ngọn tháp, nơi tôi nằm,
gọi về những ngày đã thuộc về những người khác,
những ngày xa vời vợi, những ngày của quá khứ.
Trong mắt tôi không có những ngày. Những kệ sách
vươn cao, vượt quá những năm tháng đời tôi,
những lớp bụi, và giấc ngủ quanh tháp.
Sao cứ tự huyễn mình?
Sự thực là tôi chẳng bao giờ học đọc,
nhưng thật dễ chịu khi nghĩ rằng,
tưởng tượng, hay quá khứ chi chi đó, đều như nhau,
đối với kẻ gần kề miệng lỗ,
từ ngọn tháp ông ta nhìn xuống nơi xưa kia vốn là một thành phố,
nay trở thành một vùng hoang dại.
Ai cấm tôi mơ mộng, đã có một thời, khi tôi giải ra sự uyên thâm,
và những con chữ với bàn tay thận trọng?
Tên tôi là Hoàng. Tôi là người giữ những cuốn sách -
những cuốn này có lẽ là những cuốn cuối cùng,
bởi vì người ta chẳng biết gì về Thiên Tử
hay là về số phận của Đế Quốc.
Nơi đây, trên những kệ cao,
cùng một thời gian gần và xa,
bí mật và có thể thấy được, như những vì sao.
Đây sừng sững - những khu vườn, những miếu đền.
 
Di Giovanni:
The Keeper of the Books
Here they stand: gardens and temples
and the reason for temples...

 
Borges: Bạn thấy đấy, những khu vườn, miếu đền làm nghĩ tới một điều chi hoang xưa, man rợ.
 
Di Giovanni:
Exact music and exact words;
the sixty-four hexagrams...

 
Borges: Tôi đang nghĩ đến The Book of Changes,1 hay I Ching, và những hình sáu điểm, mỗi cái có sáu hàng.2
 
Di Giovanni:
... ceremonies, which are the only wisdom
that the Firmament accords to men....

 
Borges: Đây là tôi đang cố làm người Trung Hoa. Bạn có hình sáu điểm, những buổi lễ, và ông trời.
 
Di Giovanni
... the conduct of that emperor
whose perfect rule was reflected in the world,
which mirrored him...

 
Borges: Đây là từ Khổng Tử - bản dịch, lẽ dĩ nhiên.
 
Di Giovanni:
... so that rivers held their banks
and fields gave up their fruit;
the wounded unicorn that's glimpsed again...

 
Borges: Đây là tiểu sử, hoặc truyền thuyết về Khổng Tử. Hình như khi bà mẹ ông sanh, kỳ lân xuất hiện (tôi đã nhìn thấy hình con kỳ lân đó), và sông bắt đầu chảy từ sừng kỳ lân. Thời gian qua đi, kỳ lân trở lại, và Khổng Tử lúc đó biết rằng số mình đã hết. Chúng ta cũng nghĩ tới Mark Twain và Sao Chổi Halley. Đây là những điều kỳ diệu xuất hiện và biến mất cùng lúc - kỳ lân và Khổng Tử, sao chổi và Mark Twain.
 
Di Giovanni:
... marking an era' s close...

Borges: "kỷ nguyên đóng lại" có vẻ quá đương đại. Thời tôi người ta nói "đem cho chó". Chiếu theo sự kiện, một xứ sở luôn bị đem cho chó, nhưng, bằng một cách nào đó, lại được cứu vớt.
 
Di Giovanni:
... the secret and eternal laws;
the harmony of the world.

 
Borges: Cái này thì "Tầu" đặc, và lại có tính tiên tri, tôi nghĩ vậy.
 
Di Giovanni:
These things or their memory are here in books
that I watch over in my tower.

 
Borges: Tôi trở lại với bài thơ đầu, nguỵ trang làm một người Trung Hoa.
 
Di Giovanni:
On small shaggy horses,
the Mongols swept down from the North...

 
Borges: Phải là ngựa nhỏ, bởi vì nếu tôi viết "On high shaggy horses", coi bộ huy hoàng, hùng vĩ quá. Ngựa con, cho chắc ăn.
 
Di Giovanni:
... destroying the armies
ordered by the Son of Heaven to punish their desecrations.

 
Borges: Ở đây, tôi muốn độc giả cảm thấy thương hại vì Thiên Tử, người đã đưa quân đội đi trừng phạt những người Mông Cổ, thay vì vậy, lại bị đánh bại.
 
Di Giovanni:
They cut throat...
 
Borges: Tôi phải xin lỗi tất cả về chuyện cắt cổ ở đây. Tôi vốn dân Argentine, và đây là một thói quen.
 
Di Giovanni:
They cut throat and sent up pyramids of fire,
slaughtering the wicked and the just,
slaughtering the slave chained to his master's door...

 
Borges: Hình như đây là một thói quen ở dân Đông phương. Trong Chuang Tzu có nói về một người bị xiềng vào cửa. Rồi trong Salammbô của Flaubert, khi Hannibal bước vào gặp những kho tàng của ông ta, trong có người nô lệ bị xiềng.
 
Di Giovanni:
... using the women and casting them off.
And on to the South they rode,
innocent as annimals of prey,
cruel as knives.


Borges: Vâng, tôi nghĩ họ giống chó sói hơn là người.
 
Di Giovanni:
In the faltering dawn
my father's father saved the books.
Here they are in this tower where I lie
calling back days that belonged to others,
distant days, the days of the past.

 
Borges: Một cái tháp vì có thể chỉ có nó là còn sau khi cả ngôi làng bị huỷ diệt. Từ tháp, ông ta có thể nhìn thấy nhiều điều. Và bây giờ tôi đi tới sự kiện là ông ta không thể nhìn.
 
Di Giovanni:
In my eyes there are no days. The shelves...
 
Borges: Bạn thấy đấy, ông ta luôn luôn nói dối.
 
Di Giovanni:
... stand very high, beyond the reach of my years,
and leagues of dust and sleep surround the towe

 
Borges: Nguyên bản, tôi viết "leuas de polvo y sueno", ở estancia của Alicia Jurado. Bà sau đó đã sử dụng làm nhan đề một cuốn sách.
 
Di Giovanni:
Why go on deluding myself?
The truth is that I never learned to read,
but it comforts me to think
that what's imaginary and what's past are the same...

 
Borges: Tôi trở nên quá lỗi thời mất rồi. Chỉ thích mấy trò hấp hối. Tôi nói về một người đàn ông, như bị mù, như bị mất khả năng đọc sách, và rồi tệ hại hơn nữa, ông ta mù chữ, và chẳng bao giờ có thể đọc. Số phận của ông ta tồi tệ hơn của tôi. Tôi ít ra còn đọc Stevenson, nhưng người đàn ông không thể đọc những cuốn sách về sự uyên thâm của ông ta.
 
Di Giovanni:
... that what's imaginary and what's past are the same
to the man whose life is nearly over,
who looks out from his tower on what once was city
and now turns back to wilderness.

 
Borges: Ông ta biết điều đó, tuy rằng thực sự không nhìn thấy.
 
Di Giovanni:
Who can keep me from dreaming
that there was a time when I deciphered wisdom
and lettered characters with acareful hand?
My name is Hsiang...

 
Borges: Tôi có cái tên từ Chuang Tzu, nhưng chẳng biết đọc ra sao.
 
Di Giovanni:
... I am the keeper of the books -
these books which are perhaps the last,
for we know nothing of the Son of Heaven
or of the Empire's fate.

 
Borges: Đây lại là ý nghĩ về mạt kỳ của văn minh.
 
Di Giovanni:
Here on the shelves they stand,
at the same time near and far,
secret and visible, like the stars.

 
Borges: Tôi lại nói về sự hiện diện bí ẩn của những cuốn sách mà bạn đã có trong bài thơ đầu. Bài thơ thứ nhì này có thể được coi như một loại ngụ ngôn, nhưng tôi vẫn đang viết nó từ kinh nghiệm riêng tư.
 
Di Giovanni: Và dòng thơ chót:
Here they stand - gardens, temples.
 
Borges: Với sự ngạc nhiên, tôi thấy đây thực sự là một bài thơ hay - cho dù tôi là tác giả. Tôi tự hỏi các bạn nghĩ sao về nó?
 
Q: Liệu ông ta vẫn có thể nhìn thấy những khu vườn, những miếu đền, từ bên trong tháp?
 
Borges: Không, ông ta không thể. Cả ngọn tháp đã bị huỷ diệt. Đây là ý nghĩa: bên trong những cuốn sách, một trật tự đã mất vẫn có thể tìm được lại - văn minh. Tôi nghĩ về văn minh, trong bài thơ này, như là nó đã bị huỷ diệt bởi những người Mông Cổ. Còn nữa, rằng trật tự đó - văn minh Á châu, nơi tất cả câu chuyện đã xẩy ra, hãy giả dụ, một thế kỷ trước đó, hay hơn - vẫn còn ở trong những cuốn sách, duy có điều: không ai có thể giải mã được chúng, bởi vì người đàn ông này là người độc nhất còn sống, và ông ta mù.  
NQT dịch [có bỏ đi một vài đoạn]
_____

 (Nguồn : Tin Văn



Bài này, Gấu dịch, thời gian mới ra hải ngoại, được Trùm Cớm hải ngoại lôi ra xài xể [xin coi mục Potin, trên tanvien.net], và, quả đầy sạn, ngoài ra, còn bỏ đi 1 số đoạn, tính dịch lại, nhưng cứ lu bu hoài.
Nay post lại, tiện thể sửa sai sót - chờ tìm nguyên tác, coi nó nằm đâu – và cùng lúc, đi 1 đường lèm bèm về thơ tân hình thức, nhân đọc lời còm của Borges, về bài thơ của chính ông.

ENDYMION ON LATMOS

I was sleeping on the summit and my body
Was beautiful, now worn out by years.
High in the Hellenic night, the centaur
Slowed his fourfold race
To spy into my dream. I liked
To sleep in order to dream and for the other
Lustrous dream eluding memory
That purifies us from the burden
Of being what we are on earth.
Diana, goddess who is also the moon,
Saw me sleeping on the mountain
And slowly came down into my arms
Gold and love in the flaming night.
I held her mortal eyelids,
I wanted to see her lovely face
Which my lips of dust profaned.
I tasted the moon's perfume
And her unending voice called my name,
O pure faces seeking each other,
O rivers of love and of night,
O human kiss and the bow's tension.
How long has my wandering lasted?
There are things unmeasured by grapes
Or flower or slender snow.
People run from me, are threatened
By the man loved by the moon.
Years have gone by. One worry
Horrifies my vigil. I wonder
If that uproar of gold in the mountain
Was true or merely a dream.
Why fool myself that a memory
Of yesterday and a dream are the same?
My loneliness drifts along the ordinary
Roads of the earth, but in the ancient night
Of the Numens, I always seek
The indifferent moon, daughter of Zeus.
[Trans. Willis Barnstone]

"Endymion on Latmos" is a mythological poem, and perhaps the one personal poem I have ever written. Because Endymion, like all myths, is not a figment or mere reason. Endymion stands for all men. So you say when a man has been loved, then he has been loved by divinity, he has been loved by a goddess, he has been loved by the moon. So I think I have the right to compose this poem, since like all men I have been, at least once or twice, or thrice in my life, Endymion. I have been loved by a goddess. Afterwards I felt unworthy of it, at the same time, grateful. For why should good things last? As Keats had it, "A thing of beauty is a joy forever." The fact of having loved or having been loved, that may be represented by the story of Endymion and the moon, and I have done my best to make this poem alive and not to make you feel that it is based on Lemprière's Classical Dictionary, but upon my personal fate and the personal fate of all men, all over the world, all over time.

Borges @ 80


 
 Endymion on Latmos” là 1 bài thơ huyền hoặc và có lẽ độc nhất mà tôi đã từng viết. Bởi là vì Endymion, như tất cả những huyền thoại thì không phải là một điều tưởng tượng, hay một lý lẽ giản đơn. Endymion đại diện cho tất cả những tên đực rựa. Và như thế, khi bạn phán, 1 tên đàn ông được yêu, là bạn phán, thằng khốn được cái thần thánh, cái siêu việt, hay đơn giản hơn - hắn ta được thánh nữ để mắt tới. Hắn ta được mặt trăng yêu. Vì thế tôi nghĩ tôi có quyền làm bài thơ này, vì như tất cả những người đàn ông, tôi đã được, ít lắm là 1 hoặc 2 lần hay 3 lần trong đời, là Endymion. Tôi đã được 1 thánh nữ yêu. Sau đó, tôi thấy mình không xứng đáng, và cùng lúc, biết ơn. Vì lý do gì mà nàng cắt bỏ tất cả liên lạc, tại làm sao mà những điều tốt lành không kéo dài?
Như Keats phán, “Đẹp như… em của Gấu, thì là 1 niềm vui vĩnh viễn, vô tận, hoài hoài”
I was sleeping on the summit and my body
Was beautiful, now worn out by years.
High in the Hellenic night, the centaur
Slowed his fourfold race
To spy into my dream. I liked
To sleep in order to dream and for the other
Lustrous dream eluding memory
That purifies us from the burden
Of being what we are on earth.
Diana, goddess who is also the moon,
Saw me sleeping on the mountain
And slowly came down into my arms
Gold and love in the flaming night.
I held her mortal eyelids,
I wanted to see her lovely face
Which my lips of dust profaned.
I tasted the moon's perfume
And her unending voice called my name,
O pure faces seeking each other,
O rivers of love and of night,
O human kiss and the bow's tension.
How long has my wandering lasted?
There are things unmeasured by grapes
Or flower or slender snow.
People run from me, are threatened
By the man loved by the moon.
Years have gone by. One worry
Horrifies my vigil. I wonder
If that uproar of gold in the mountain
Was true or merely a dream.
Why fool myself that a memory
Of yesterday and a dream are the same?
My loneliness drifts along the ordinary
Roads of the earth, but in the ancient night
Of the Numens, I always seek
The indifferent moon, daughter of Zeus.

[Trans. Willis Barnstone]

"Endymion on Latmos" is a mythological poem, and perhaps the one personal poem I have ever written. Because Endymion, like all myths, is not a figment or mere reason. Endymion stands for all men. So you say when a man has been loved, then he has been loved by divinity, he has been loved by a goddess, he has been loved by the moon. So I think I have the right to compose this poem, since like all men I have been, at least once or twice, or thrice in my life, Endymion. I have been loved by a goddess. Afterwards I felt unworthy of it, at the same time, grateful. For why should good things last? As Keats had it, "A thing of beauty is a joy forever." The fact of having loved or having been loved, that may be represented by the story of Endymion and the moon, and I have done my best to make this poem alive and not to make you feel that it is based on Lemprière's Classical Dictionary, but upon my personal fate and the personal fate of all men, all over the world, all over time.
Borges @ 80




 





























Comments

Popular posts from this blog

TDT

Hoàng Hạc Lâu

Bi Khúc