A Pedagogy of Hatred

Borges cho rằng, quan niệm về một âm mưu ghê rợn của Đức nhằm thống trị toàn thế giới, là quá tầm phào, cà chớn.
"Gấu Nhà Văn" tin rằng Cái Ác Bắc Kít đưa đất nước Mít xuống hố; Borges, chính cái thứ giáo dục dậy con nít hận thù gây đại họa.

TV post mấy đoạn viết của ông, và sẽ số gắng chuyển ngữ, nếu có thể.

NOTES ON GERMANY & THE WAR
JORGE LUIS BORGES

A Pedagogy of Hatred
Displays of hatred are even more obscene and denigrating than exhibitionism. I defy pornographers to show me a picture more vile than any of the twenty-two illustrations that comprise the children's book Trau keinem Fuchs auf gruener Heid und keinem Jud bei seinem Eid [Don't Trust Any Fox from a Heath or Any Jew on his Oath] whose fourth edition now infests Bavaria. It was first published a year ago, in 1936, and has already sold 51,000 copies. Its goal is to instill in the children of the Third Reich a distrust and animosity toward Jews. Verse (we know the mnemonic virtues of rhyme) and color engravings (we know how effective images are) collaborate in this veritable textbook of hatred.
Take any page: for example, page 5. Here I find, not without justifiable bewilderment, this didactic poem-"The German is a proud man who knows how to work and struggle. Jews detest him because he is so handsome and enterprising" -followed by an equally informative and explicit quatrain: "Here's the Jew, recognizable to all, the biggest scoundrel in the whole kingdom. He thinks he's wonderful, and he's horrible." The engravings are more astute: the German is a Scandinavian, eighteen-year-old athlete, plainly portrayed as a worker; the Jew is a dark Turk, obese and middle-aged. Another sophistic feature is that the German is clean-shaven and the Jew, while bald, is very hairy. (It is well known that German Jews are Ashkenazim, copper-haired Slavs. In this book they are presented as dark half-breeds so that they'll appear to be the exact opposite of the blond beasts. Their attributes also include the permanent use of a fez, a rolled cigar, and ruby rings.)
Another engraving shows a lecherous dwarf trying to seduce a young German lady with a necklace. In another, the father reprimands his daughter for accepting the gifts and promises of Solly Rosenfeld, who certainly will not make her his wife. Another depicts the foul body odor and shoddy negligence of Jewish butchers. (How could this be, with all the precautions they take to make meat kosher?) Another, the disadvantages of being swindled by a lawyer, who solicits from his clients a constant flow of flour, fresh eggs, and veal cutlets. After a year of this, the clients have lost their case but the Jewish lawyer "weighs two hundred and forty pounds." Yet another depicts the opportune expulsion of Jewish professors as a relief for the children:
"We want a German teacher;' shout the enthusiastic pupils, "a joyful teacher who knows how to play with us and maintain order and discipline. We want a German teacher who will teach us common sense." It is difficult not to share such aspirations.
What can one say about such a book? Personally I am outraged, less for Israel's sake than for Germany's, less for the offended community than for the offensive nation. I don't know if the world can do without German civilization, but I do know that its corruption by the teachings of hatred is a crime.
[1937]
1939
Those who hate Hitler usually hate Germany...
... I naively believe that a powerful Germany would not have saddened Novalis or been repudiated by Holderlin. I detest Hitler precisely because he does not share my faith in German people; he has decided that to undo 1918, the only possible lesson is barbarism ; the best incentive, concentration camp....
1941
The notion of an atrocious conspiracy by Germany to conquer and oppress all the countries of the atlas is (I rush to admit) irrevocably banal. It seems an invention of Maurice Leblanc, of Mr. Phillips Oppenheim, or of Baldur von Schirach. Notoriously anachronistic, it has the unmistakable flavor of 1914. Symptomatic of a poor imagination, grandiosity, and crass make-believe, this deplorable German fable counts on the complicity of the oblique Japanese and the docile, untrustworthy Italians, a circumstance that makes it even more ridiculous ... Unfortunately, reality lacks literary scruples. All liberties are permitted, even a coincidence with Maurice Leblanc. As versatile as it is monotonous, reality lacks nothing, not even the purest indigence. Two centuries after the published ironies of Voltaire and Swift, our astonished eyes have seen the Eucharist Congress; men fulminated against by Juvenal rule the destinies of the world. That we are readers of Russell, Proust, and Henry James matters not; we are in the rudimentary world of the slave Aesop and cacophonic Marinetti. Ours is a paradoxical destiny.
Le vrai peut quelque fois n'être pas vraisemblable: the unbelievable, indisputable truth is that the directors of the Third Reich are procuring a universal empire, the conquest of the world. I will not enumerate the countries they have already attacked and plundered, not wishing this page to be infinite. Yesterday the Germanophiles swore that the maligned Hitler did not even dream of attacking this continent; now they justify and praise his latest hostility. They have applauded the invasion of Norway and Greece, the Soviet Republics and Holland; who knows what celebrations they will unleash the day our cities and shores are razed. It is childish to be impatient; Hitler's charity is ecumenical; in short (if the traitors and Jews don't disrupt him) we will enjoy all the benefits of torture, sodomy, rape, and mass executions. Do not our plains abound in Lebensraum, unlimited and precious matter? Someone, to frustrate our hopes, observes that we are very far away, My answer to him is that colonies are always far from the metropolis; the Belgian Congo is not on the borders of Belgium.
BORGES: An Essay on Neutrality

CCRD, lệnh từ Bắc Kinh, Bắc Kít phải làm, là, phải làm.
Giả như để chậm lại, là không có vụ di cư.
Bắc Kít quên ơn Tẫu, nhưng, có thể nói, không có Tẫu không có Ngụy. Hoặc có, nhưng chết hết ở trong Lò Cải Tạo, nếu Tẫu không dạy cho VC hai bài học!



Thực hư môn sử bị 'xóa sổ'?

http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2015/11/151119_hangout_history_teaching

Cái môn sử mà VC nhồi nhét vô đầu con nít, sở dĩ giờ này lâm đại họa, vì nó quá nhảm. Làm đếch gì có Lê Văn Tám, thí dụ, và gần đây nhất, là cuộc chiến Mít: Từ trẻ con tới người lớn xứ Bắc Kít bây giờ thì mới ngã ngửa ra rằng thì là, hóa ra Ngụy chúng sướng hơn Cách Mạng nhiều, và rõ ràng là chúng “người” hơn nhiều so với thứ được trồng bằng Cái Ác Bắc Kít.
Không chỉ sử, mà có thể nói cả 1 nền giáo dục Bắc Kít cần phải xóa sổ, vì đó là 1 nền giáo dục dậy con nít hận thù.
Cái chết của Bắc Kít, là dậy con nít thù hận.
Borges bị Naipaul chửi là cả đời mân mê cái bất tử, đếch thèm để ý đến đời thực.
Không đúng. Cả đời Borges, bất cứ khi nào ông quan tâm đến đời thực, là thực sự quan trọng, hết sức cần thiết.
Ông phán, Lò Thiêu, sở dĩ xẩy ra, là vì nước Đức dậy con nít thù hận. Cái thù hận sắc dân chỉ là cái cớ, dậy con nít thù hận mới là cái chết của nước Đức.

Hai phát giác thần sầu của Borges liên quan tới Nazi, đều có gì mắc mớ tới Bắc Kít, và cuộc chiến vừa qua, theo GCC.

Thứ nhất, là nền giáo dục hận thù gây họa.
Thứ nhì, Borges tin rằng Hitler không hề muốn thắng, mà muốn thua, muốn bại trận.

Gấu chẳng đã từng kể câu chuyện anh bạn cùng học thời trung học NKL, đi tù cải tạo, 1 lần chuyển trại, đói quá, được 1 bà già Bắc Kít lén cho ăn. Nhìn anh ăn vội vàng, lén lút, bà than, các cháu đánh đấm ra làm sao mà để thua giặc dữ. Già này đêm ngày cầu nguyện cho Miền Nam giải phóng Đất Bắc.
Nguyễn Chí Thiện mà chẳng thế sao. Ở tù VC, khi nghe tin Miền Nam thua trận, ông quá đau lòng.

Còm của Borges về ngày 30 Tháng Tư 1975

* *
A Comment on August 23, 1944
That crowded day gave me three heterogeneous surprises: the physical happiness I experienced when they told me that Paris had been liberated; the discovery that a collective emotion can be noble; the enigmatic and obvious enthusiasm of many who were supporters of Hitler. I know that if I question that enthusiasm I may easily resemble those futile hydrographers who asked why a single ruby was enough to arrest the course of a river; many will accuse me of trying to explain a chimerical occurrence. Still, that was what happened and thousands of persons in Buenos Aires can bear witness to it.
    From the beginning, I knew that it was useless to ask the people themselves. They are changeable; through their practice of incoherence they have lost every notion that incoherence should be justified: they venerate the German race, but they abhor "Saxon" America; they condemn the articles of Versailles, but they applaud the marvels of the Blitzkrieg; they are anti-Semitic, but they profess a religion of Hebrew origin; they laud sub-marine warfare, but they vigorously condemn acts of piracy by the British; they denounce imperialism, but they vindicate and promulgate the theory of Lebensraum; they idolize San Martin, but they regard the independence of America as a mistake; they apply the canon of Jesus to the acts of England, but the canon of Zarathustra to those of Germany.
    I also reflected that every other uncertainty was preferable to the uncertainty of a dialogue with those siblings of chaos, who are exonerated from honor and piety by the infinite repetition of the interesting formula I am Argentine. And further, did Freud not reason and Walt Whitman not foresee that men have very little knowledge about the real motives for their conduct? Perhaps, I said to myself, the magic of the symbols Paris and liberation is so powerful that Hitler's partisans have forgotten that these symbols mean a defeat of his forces. Wearily, I chose to imagine that fickleness and fear and simple adherence to reality were the probable explanations of the problem.
    Several nights later a book and a memory enlightened me. The book was Shaw's Man and Superman; the passage in question is the one about John Tanner's metaphysical dream, where it is stated that the horror of Hell is its unreality. That doctrine can be compared with the doctrine of another Irishman, Johannes Scotus Erigena, who denied the substantive existence of sin and evil and declared that all creatures, including the Devil, will return to God. The memory was of the day that is the exact and detested opposite of August 23, 1944: June 14, 1940. A certain Germanophile, whose name I do not wish to remember, came to my house that day. Standing in the doorway, he announced the dreadful news: the Nazi armies had occupied Paris. I felt a mixture of sadness, disgust, malaise. And then it occurred to me that his insolent joy did not explain the stentorian voice or the abrupt proclamation. He added that the German troops would soon be in London. Any opposition was useless, nothing could prevent their victory. That was when I knew that he too was terrified.
    I do not know whether the facts I have related require elucidation. I believe I can interpret them like this: for Europeans and Americans, one order-and only one is possible: it used to be called Rome and now it is called Western Culture. To be a Nazi (to play the game of energetic barbarism, to play at being a Viking, a Tartar, a sixteenth-century conquistador, a Gaucho, a redskin) is, after all, a mental and moral impossibility. Nazism suffers from unreality, like Erigena's hells. It is uninhabitable; men can only die for it, lie for it, kill and wound for it. No one, in the intimate depths of his being, can wish it to triumph. I shall hazard this conjecture: Hitler wants to be defeated. Hitler is collaborating blindly with the inevitable armies that will annihilate him, as the metal vultures and the dragon (which must not have been unaware that they were monsters) collaborated, mysteriously, with Hercules.
J.L. Borges
Borges kể là ngày 14 June 1940, một tay nói tiếng Đức mà tên của người này, ông không muốn nói ra, tới nhà ông. Đứng tại cửa, anh ta báo tin động trời: Quân đội Nazi đã chiếm đóng Paris. 

Tôi [Borges] thấy trong tôi lẫn lộn một mớ cảm xúc, buồn, chán, bịnh.

Thế rồi Borges bỗng để ý tới 1 điều thật lạ, là, trong cái giọng bề ngoài tỏ ra vui mừng khi báo tin [30 Tháng Tư, nói tiếng Bắc Kít, mà không mừng sao, khi Nazi/VC chiếm đóng Paris/Sài Gòn!], sao nghe ra, lại có vẻ như rất ư là khiếp sợ, hoảng hốt?

Hà, hà!

Thế rồi anh ta phán tiếp, Nazi/VC sẽ không tha London. Và không có gì ngăn cản bước chân của Kẻ Thù Nào Cũng Đánh Thắng!

Và tới lúc đó, thì Borges hiểu, chính anh ta cũng quá khiếp sợ!

Cũng tới lúc đó, Borges hiểu ra "chân lý": Hitler muốn thua trận: Hitler wants to be defeated.

Đọc tới đó, thì Gấu nhớ ra cái bà già nhà quê Bắc Kít đã từng lén VC cho bạn của Gấu, sĩ quan cải tạo 13 niên, tí ti đồ ăn, trong 1 lần chuyển trại tù. Bà lầm bầm, khi nhìn bạn của Gấu nuốt vội tí cơm, các cháu đánh đấm ra làm sao mà để thua giặc dữ. Già này ngày đêm cầu khẩn các cháu ra giải phóng Đất Bắc Kít!



NOTES GERMANY & ON THE WAR
A Pedagogy of Hatred
Displays of hatred are even more obscene and denigrating than exhibitionism. I defy pornographers to show me a picture more vile than any of the twenty-two illustrations that comprise the children's book Trau keinem Fuchs auf gruener Heid und keinem Jud bei seinem Bid [Don't Trust Any Fox from a Heath or Any Jew on his Oath] whose fourth edition now infests Bavaria. It was first published a year ago, in 1936, and has already sold 51,000 copies. Its goal is to instill in the children of the Third Reich a distrust and animosity toward Jews. Verse (we know the mnemonic virtues of rhyme) and color engravings (we know how effective images are) collaborate in this veritable textbook of hatred.
Take any page: for example, page 5. Here I find, not without justifiable bewilderment, this didactic poem-"The German is a proud man who knows how to work and struggle. Jews detest him because he is so handsome and enterprising" -followed by an equally informative and explicit quatrain: "Here's the Jew, recognizable to all, the biggest scoundrel in the whole kingdom. He thinks he's wonderful, and he's horrible." The engravings are more astute: the German is a Scandinavian, eighteen-year-old athlete, plainly portrayed as a worker; the Jew is a dark Turk, obese and middle-aged. Another sophistic feature is that the German is clean-shaven and the Jew, while bald, is very hairy. (It is well known that German Jews are Ashkenazim, copper-haired Slavs. In this book they are presented as dark half-breeds so that they'll appear to be the exact opposite of the blond beasts. Their attributes also include the permanent use of a fez, a rolled cigar, and ruby rings.)
Another engraving shows a lecherous dwarf trying to seduce a young German lady with a necklace. In another, the father reprimands his daughter for accepting the gifts and promises of Solly Rosenfeld, who certainly will not make her his wife. Another depicts the foul body odor and shoddy negligence of Jewish butchers. (How could this be, with all the precautions they take to make meat kosher?) Another, the disadvantages of being swindled by a lawyer, who solicits from his clients a constant flow of flour, fresh eggs, and veal cutlets. After a year of this, the clients have lost their case but the Jewish lawyer "weighs two hundred and forty pounds." Yet another depicts the opportune expulsion of Jewish professors as a relief for the children: "We want a German teacher;' shout the enthusiastic pupils, "a joyful teacher who knows how to play with us and maintain order and discipline. We want a German teacher who will teach us common sense." It is difficult not to share such aspirations.
What can one say about such a book? Personally I am outraged, less for Israel's sake than for Germany's, less for the offended community than for the offensive nation. I don't know if the world can do without German civilization, but I do know that its corruption by the teachings of hatred is a crime.
[1937]
Jorge Luis Borges: Selected Non-Fictions, Penguin Books
Người dịch: Suzanne Jill Levine
*
Note: Tình cờ vớ được bài trên, Sư Phạm của Hận Thù, đọc, Gấu bỗng nhớ đến bài viết Còn Lại Gì? của PTH, thí dụ, những đoạn dậy toán bằng đếm xác Mỹ Ngụy...

I don't know if the world can do without German civilization, but I do know that its corruption by the teachings of hatred is a crime.
Tôi không biết thế giới làm ăn ra sao, nếu thiếu nền văn minh Đức, nhưng tôi biết, cái sự sa đọa, hư ruỗng của nó, do dậy dỗ hận thù, và đây là 1 tội ác.
Cái việc dậy con nít hận thù là một tội ác. Cái sự thắng trận và băng hoại sau đó, chính là do dậy con nít thù hận. We want a German teacher who will teach us common sense: Chúng em muốn 1 ông thầy dậy chúng em lương tri. (1)

Borges có mấy bài viết, có tính "dấn thân, nhập cuộc", được gom lại thành 1 cục, có tên là "Ghi chú về Đức & Cuộc Chiến", trong tuyển tập Selected Non-Fictions, Penguin Books.
Bài trên, như tiên tri ra được Bắc Kít sẽ thắng cuộc chiến Mít, nhờ dạy con nít thù hận.
Còn bài nữa, cũng tuyệt lắm: "Một cuộc triển lãm gây bực mình", “A Disturbing Exposition”. Bài này thì lại mắc mớ đến cái vụ khu trục đám nhà văn Ngụy ra khỏi nền văn học VC.

Người Mẹ trong tác phẩm của Kincaid
Bài dịch này, cũng là từ hồi mới qua Canada, 1997. Ng. Tuấn Anh cũng là bút hiệu của Gấu Cà Chớn
Đọc bản tiếng Anh 1 phát, là trúng đòn liền, vì Gấu cũng 1 thứ không thương Mẹ mình, và đây là độc hại di truyền từ bà nội Gấu.
Bà rất thù cô con dâu, và đổ diệt cho mẹ Gấu, vì ngu dốt quá, khiến chồng bị chúng giết.
Bà cụ Gấu do tham phiên chợ cuối năm 1946, tại Việt Trì, và khi trở về làng quê bên kia sông, tay thủ lãnh băng đảng chiếm Việt Trì lúc đó, là 1 tên học trò của ông cụ, đã đưa cái thư mời dự tiệc tất niên, nhờ bà đưa cho chồng. Nhận được thư, đúng bữa ba mươi Tết, ông cụ đi, và mất tích kể từ đó. Gấu đã viết về chuyện này trong Tự Truyện.
Lần trở lại đất Bắc, Gấu muốn tìm hiểu coi cụ mất đích thực ngày nào, và thắp 1 nén hương cho bố mình.
*

Bãi sông Việt Trì, nơi ông cụ Gấu mất. Khi Gấu về, cầu đang thi công. Gấu xuống xe, thắp hương, cúng, khấn Bố.
Bà chị Gấu không xuống xe. Hình như Bà chưa lần nào cúng Bố.
Cúng Mẹ thì lại càng không.
*
Note: Bản trường ca, hoá ra là trang Tin Văn, chỉ để tố cáo Cái Ác Bắc Kít.
Kincaid viết về quê hương của Bà:
Bạn cứ tới những nơi chốn, nơi cái xiềng thuộc địa thật sự bằng thép, và tỏ ra hết sức hữu hiệu: Phi Châu, vùng Caribbean, hay một nơi nào khác trên địa cầu. Phi Châu là một thảm họa. Tôi không hiểu đất đai con người ở đây rồi có ngày lành mạnh trở lại, hay là không. Thật khó có chuyện, những ông chủ thuộc địa bỏ qua, không đụng tới cái phần tâm linh của con người Phi Châu. Bởi vậy, chuyện tiểu thuyết hóa là đồ dởm. Những người Phi Châu đối xử với nhau thật là độc ác; bạn chỉ việc nhìn tất cả những con người đói khát đó thì thấy. Làm sao có chuyện những ngài thủ lãnh Phi Châu nhìn vào mặt con dân của họ, và rớt nước mắt? Họ cứ tiếp tục duy trì, theo một con đường tệ mạt khốn kiếp, cái điều đã xẩy ra khi còn chế độ thuộc địa. Sự thực, là bất cứ đâu đâu, cái gọi là di sản của chủ nghĩa thuộc địa, đó là: độc ác, tàn nhẫn, trộm cướp. Cách những tên thực dân đối xử: mild way, nhẹ nhàng thôi, đôi lúc có xoa đầu những người dân cô lô nhần, bây giờ chúng ta đối xử với nhau, theo một cách cay độc hơn, khốn kiếp hơn. Và bạn biết không, chúng ta cứ mắm môi mắm lợi, lấy hết sức lực ra, full force, để mà "chơi" nhau. Bởi vậy, có thể dưới luật thuộc địa, người Phi Châu ăn rất ít; dưới luật của người Phi Châu, họ chẳng ăn gì hết - và cứ như thế.
Có 1 cái gì đó, y chang xứ Bắc Kít, thời Pháp Thuộc.
Khi vô Nam, là Gấu nhận ra liền, xứ này không giống xứ Bắc Kít, và Gấu mơ hồ hiểu ra, sự khác biệt là do đâu.
Gấu nhớ, hồi mới vô Sài Gòn, lần đầu vô 1 quán ăn xã hội, chỉ phải mua đồ ăn, cơm tha hồ ăn, khỏi trả tiền, thằng bé Bắc Kít sững người, ú a ú ớ…. Rồi những lần đi chơi Bình Dương, vào vườn chôm chôm, cũng tha hồ ăn, nhưng đừng mang về, rồi, rồi, chỉ đến khi vô tù VC, thì mới gặp lại xứ Bắc Kít ngày nào.


Mít vs Lò Thiêu Người


Comments

Popular posts from this blog

TDT

Bi Khúc

Hoàng Hạc Lâu