TTT 22.3.2006 – 22.3. 2011




Điểm Sách Là Gì?

Hiện Ðại vs Cổ Ðiển
(
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*

 “Thơ Thanh Tâm Tuyền phải được đặt trong vị trí 'di cư' và 'chiến tranh' của một thành phố mở ra thế giới bên ngoài là Sài Gòn. Không có hoàn cảnh hay khung cảnh ấy, người ta khó cảm hay yêu thơ của ông.”
Quỳnh Giao
Nói một cách khác, không có vụ di cư, không có tờ Sáng Tạo, không có Dương Nghiễm Mậu. Rượu Chưa Đủ "chưa đủ", nó cần một, hay nhiều hình ảnh khác nữa để tự khẳng định, để hoàn tất: chúng bổ túc cho nhau, những đứa con tư sinh của một miền đất. Nói rõ hơn, Dương Nghiễm Mậu là một "dị bản", của một Thanh Tâm Tuyền quá trí thức, quá Tây-phương, quá say mê Malraux... Một Thanh Tâm Tuyền "khác", khô, cứng, thật chững chạc, nhưng cũng thật cảm động... Nguyễn Đình Toàn, lại một Thanh Tâm Tuyền khác nữa, một bên là mặt trời, một bên là bóng đêm, chúng bổ túc cho nhau. Dẫn chứng quá nhiều: Chị Em Hải (Nguyễn Đình Toàn) là một dị bản của kịch Ba Chị Em (Thanh Tâm Tuyền). Đêm Lãng Quên, truyện ngắn được Võ Phiến tuyển chọn ở hải ngoại, khi viết về những tác giả Miền Nam, thoát thai từ một truyện ngắn của Thanh Tâm Tuyền, tôi không còn nhớ tên, viết về ông già gác dan, (gác ga-ra?) cho cặp nhân tình tạm trú, cuối cùng bị gã con trai nện cho sặc máu mũi, gục xuống một đống... Trước khi bỏ đi, gã thét cô bồ: lột cái xú-chiêng ra, ném lên mặt khứa lão! Mùi vị đàn bà, cuộc tình hối hả... làm ông lão tỉnh dậy, thấy mình đang ở Thiên Đàng, hay phía bên kia Địa Ngục (Chiến Tranh)... Hãy so sánh với Đêm Lãng Quên, về một già muốn làm con ong hút nhị từ cô gái.... Chất hung bạo trong thơ Thanh Tâm Tuyền tràn lan ra văn. Ở Nguyễn Đình Toàn, lại là sự tắt nghẹn, hết hơi, của những bóng dáng đàn bà, không còn đủ hơi sức, để kéo lê, thân xác của chính họ: Cái Chết, Cái Sống đều thoi thóp như nhau. Bóng dáng của Thần Chết, của Chiến Tranh lảng vảng ở trước, hoặc sau đời sống: nó vắng mặt, như một từ chối quyết liệt, bởi những con người đứng bên lề...
DNM
Ðoạn sau đây, về Solz, theo GNV, áp dụng vô “cas” TTT, cũng đặng:
Ảnh hưởng của Solz sẽ nằm một cách thật là đặc thù trong sự can đảm đạo đức của ông, nó gợi hứng cho những người ly khai trẻ tuổi tiếp tục ôm lấy cuộc chiến đấu, cả trong văn chương, và trong bảo vệ quyền con người. Như là một nhà văn, Solz gói trọn mình vào truyền thống thế kỷ 19, đặc biệt là văn phong bộc trực, súc tích, rao giảng đạo đức của Lev Tolstoy. Ông cũng sử dụng truyền thống cổ điển Nga về thử nghiệm, giữa những nhân vật hiện đại trong một không gian chật hẹp, những nguyên lý triết học và nhận thấy chúng không đầy đủ.  Sự trộn lẫn giả tưởng với lịch sử trong Bánh Xe Ðỏ là từ Chiến Tranh và Hòa Bình của Tolstoy. Ngay Quần Ðảo Gulag thì cũng có cội rễ văn học, không phải từ văn chương nhà tù của thế kỷ 20, mà là trong Ghi Chú từ Căn Nhà của Những Người Chết của Dos.
Về mặt văn học thuần tuý, như vậy, Solz là một vị thầy không có đệ tử.
Ðể hiểu đoạn trên, và áp dụng vào trường hợp TTT, chúng ta cần 1 số giải thích, soi sáng. Kỳ tới G sẽ lèm bèm tiếp.
Ít ra bạn đọc TV sẽ cùng G nhớ lại cái xen anh chàng Ðại trong Bếp Lửa, đi đâu cũng ôm theo Tội Ác và Hình Phạt của Dos, và, trước khi quyết định đi theo "nó", tức là vô bưng, lên rừng, theo VC, bèn làm thịt cô con gái riêng của ông Chính!
Solzhenitsyn's influence will lie exclusively in his moral courage, which inspired younger dissidents to carry on the struggle, both in literature and in the defence of human rights. As a writer, Solzhenitsyn was wholly locked into 19th century traditions, particularly the forthright, lapidary, moralizing style of Lev Tolstoy. He also used the Russian classical tradition of testing among modern characters in a closed space the tenets of philosophy, and finding them wanting. His mix of fiction and history in The Red Wheel is derived from Tolstoy's War and Peace. Even his Gulag Archipelago has its literary roots not in 20th century prison literature, but in Dostoevsky's Notes from the House of the Dead.
In purely literary terms, then, Solzhenitsyn is a teacher without disciples.
Về mặt văn học thuần túy, Solz là một bậc thầy không có truyền nhân.
TTT chắc cũng rứa?
Và, có thể, cũng chính cái can đảm đạo đức [tiết tháo, chữ của Ông Chánh Tổng], khiến, khi ông nằm xuống, mọi người xúc động, nhất là ở hải ngoại?

**
Trích Khởi Hành
Gấu có đọc bài của TTT, điểm cuốn Siu Cô Nương. Cuốn trước đó, Bốn Mươi, cũng 1 air như vậy. Nhân vật sống như những pho tượng, rất kịch, rất giả, rất làm dáng, đúng như TTT  mô tả. Thay vì sống giữa đống sách Mác, như đám tả phái, thì nhân vật của Mặc Ðỗ sống giữa mớ sách hiện sinh, đúng air trí thức tiểu tư sản mà Mặc Ðỗ là đại diện của nhóm.
Có lần ngồi với ông anh tại Quán Chùa, nhắc tới vụ trên, TTT nhìn nhận, viết đúng quá, và không có cách gì gỡ ra cho những nhân vật như thế, đằng sau nó là cái nền trí thức tiểu tư sản, thành ra sự thất bại của cuốn sách tiên tri sự thất bại của 1 giai cấp.
Mặc Ðỗ bực là vậy.
Một tay văn nghệ, ít tuổi hơn Gấu 1 tị, coi Gấu thuộc lớp đàn anh nhưng chơi với nhau rất thân, cũng có cùng 1 nhận xét như thế, về trường hợp Gấu điểm cuốn Mây Bay Ði của NS. Ðánh trúng quá, thành ra thi sĩ đến già vẫn không tha cho tên sa đích văn nghệ!
Anh nhắc tới trường hợp “hai cái bóng khác”, từ “cái bóng của TTT” mà ra, và nhận xét của Gấu, "chờ đợi cơn bão chiến tranh xóa sạch tất cả": Ðúng quá, nên độc quá! (1)
(1)
Nhìn từ quan điểm đó, chúng ta không thể nào coi Nguyễn Đình Toàn và Dương Nghiễm Mậu là những nhà văn tiểu thuyết mới. Nhân vật của Dương Nghiễm Mậu là những con người có một ý thức sáng suốt đến chua xót về sự cô đơn, bất lực của mình trong một xã hội đang manh nha tan rã, cuối cùng lao vào những hành động "phá phách, nổi loạn", cố tìm một thái độ đạo đức bằng những hành xử vượt ra ngoài quan niệm đạo đức thông thường. Thế giới, khung cảnh truyện của ông "khô, đầy bụi", đầy "tóc rối", trong khi ở Nguyễn Đình Toàn, là một khí hậu ẩm, ướt, với những nhân vật hầu hết là nữ. Truyện của hai tác giả giống như hai mùa mưa nắng ở Miền Nam, trong khi chờ đợi cơn bão tố chiến tranh xóa sạch tất cả.
Ðau nhất, là trường hợp Gấu đọc cuốn Nỗi Bơ Vơ, của nhà văn lính THT. Bài đọc sách đầy tâm huyết, vì viết ngay sau khi Y Uyên mất. Nhưng tác giả cuốn sách bị dội, không nhận ra thông điệp, hoặc nhận ra, nhưng quay lại phạng tên điểm sách.
Chán mớ đời!
Simenon, bị Colette điểm trúng huyệt, khi phán, văn vẻ quá, mê làm nhà văn quá. Ông ngộ liền, và trở thành nhà văn.
Mít thua xa.
Cái câu chuyện Simenon nhờ nữ sư phụ Colette phán cho một câu, mà trở thành nhà văn, Gấu đọc, như một giai thoại, vào thời mới lớn, mới tập tành viết, và cứ gật gù mãi, ấy là vì, Simenon học chỉ một chiêu mà thành đạt ghê gớm như vậy, trong khi Gấu được ông anh, thay mặt Trình Giảo Kim trong Thuyết Đường truyền cho tới ba chiêu búa thần, chẳng lẽ không nên cơm cháo gì sao! Bây giờ, vớ được bài phỏng vấn, thì mới thủng chuyện.
Georges Simenon:
Chỉ một mẩu khuyên, a piece of advice, từ một nhà văn mà thật quá có ích cho tôi. Đó là từ Colette. Tôi đang viết truyện ngắn cho tờ Matin, Buổi sáng, và Colette thì là nhà biên tập văn học vào lúc đó. Tôi nhớ là tôi đưa cho bà hai truyện ngắn, và bà quẳng lại, và tôi lại thử nữa, nữa, và cứ thế, cứ thế. Sau cùng, bà nói, Coi nè, nó quá văn chương, luôn luôn quá văn chương. [Look, it is too literary, always too literary]. Vậy là tôi theo lời khuyên của bà. Và đó là điều tôi làm khi viết, và là công việc chính của tôi, khi tôi viết lại, the main job when I rewrite.
Ông muốn nói gì với từ ‘too literary’? Những gì ông cắt bỏ, một số từ này, từ nọ?
Tính từ, trạng từ, bất cứ một từ có đó để tạo hiệu ứng, effect. Mọi câu có đó chỉ như là câu. Every sentence which is there just for the sentence. Bạn biết không, bạn có một câu đẹp, cắt! Mỗi khi tôi thấy một câu như thế ở trong một trong những cuốn tiểu thuyết của tôi, là cắt.
Ông đọc lại theo kiểu đó?
Hầu hết là như vậy.
Chứ không phải chuyện coi lại, chỉnh lại tình tiết [revising the plot pattern]?
Ô, chẳng bao giờ tôi làm chuyện đó. Đôi khi tôi thay đổi tên nhân vật…
Ông phóng viên cho biết, trong phòng ông, có đủ thứ niên giám điện thoại, chỉ để ông tìm tên cho nhân vật của ông!
*
Colette ban cho Simenon một lời khuyên, nhưng thầy của Simenon là Gogol, như trong bài phỏng vấn cho biết.
Ông có điều gì truyền cho đám nhóc tập tành viết?
Simenon: Viết được coi như là một nghề, a profession, và tôi không nghĩ, nó là một nghề. Tôi nghĩ, đừng cần là nhà văn; khi có thể làm một điều gì đó, thì nên làm [I think that everyone who does not need to be a writer, who thinks he can do something else, ought to do something else]. Viết không phải là một nghề nhưng là một thiên hướng của sự bất hạnh, writing is not a profession but a vocation of unhappiness. Tôi không hề tin có một thằng cha nghệ sĩ nào mà lại hạnh phúc.
Tuyệt! Đúng giọng Gogol. Mà còn hơn thế nữa: Giọng Kafka!
Niềm bí ẩn đáng sợ.
Nhà văn Pháp, André Gide, kể lại, một lần một người thân nằm nhà thương; ông ghé thăm, và nhận thấy, người bệnh, người thăm bệnh, kể luôn ông, người nào cũng cầm trong tay một cuốn truyện của Georges Simenon!
 Simenon, người Bỉ, viết văn bằng tiếng Pháp, sinh tại Liège năm 1903. Ngay từ trẻ, ông đã quyết định: sẽ viết văn. Mười sáu tuổi, làm ký giả cho tờ La Gazette de Liège. Thoạt đầu, lo tin vặt, sau tới chuyện trong nhà ngoài ngõ. Cuốn tiểu thuyết đầu tay, ký tên Georges Sim, ra đời năm 1921: “Trên cầu Arches, một câu chuyện nhỏ về Liège”. Dời đi Paris vào năm 1922 cùng với bà vợ đầu là một nữ họa sĩ, ông bắt đầu thực sự vào nghề bằng cách viết chuyện kể (contes), tiểu thuyết đăng nhiều kỳ (romans-feuilletons), đủ thể loại: trinh thám, huê tình (érotique), ướt át… Từ 1923 tới 1933, ông cho ra lò gần hai trăm tiểu thuyết, hàng ngàn chuyện kể, và rất nhiều bài báo.
 Trong một cuộc phỏng vấn, ông cho biết, người “khám phá” ra ông, là nữ văn sĩ người Pháp, Colette. Bà khi đó làm cho một tờ báo, nơi Simenon dụt dè thử thời vận của mình.
 “Ham làm văn quá” (nhiều tham vọng văn chương, ambitions littéraires), Colette phán. Chỉ một câu đó, Simenon ngộ ra liền. Từ đó, ông xây dựng thế giới của mình, bằng những nhân vật bình thường, những ngôn từ bình thường. Những câu chuyện của ông, cũng bình thường, và có thể xẩy tới, cho bất kỳ một con người bình thường nào trên đời.
 Độc giả người Việt chúng ta có thể mượn truyện ngắn Sợi Tóc của Thạch Lam, để làm một nhịp cầu đi vào thế giới văn chương của Simenon. Đây là câu chuyện một anh chàng nghèo ơi là nghèo, được bạn bè đãi một chầu, khi ra về, vô tình mặc lộn áo khoác, trong có bóp tiền dầy cộm. Khoảnh khắc ‘sợi tóc’ bắt đầu: nên hay là không nên ‘cứ thế tà tà ra về, chơi luôn cái bóp’? Những nhân vật của Simenon đa số đều là những con người bình thường, một ngày đẹp trời nào đó, bỗng đụng chuyện bất thường; thí dụ như trong “Người nhìn xe lửa chạy qua” (L’homme qui regardait passer le train, 1938), một nhân viên suốt đời làm lụng cực khổ, với hy vọng về hưu có tí tiền còm, đùng một cái, tay chủ tuyên bố vỡ nợ, quơ hết tiền bạc, trốn lên Paris với bồ. Đúng lúc trốn đi, chủ tớ đụng độ, anh đầy tớ quá thất vọng vì giấc mộng an hưởng tuổi già tan tành, đã quá tay đẩy ông chủ xuống sông, chỉ kịp cứu được (chỉ kịp níu lại được) chiếc cạc táp. Trong là tiền. Vô số là tiền. Thêm địa chỉ cô bồ.
 Anh lần tới, lạc vào một thế giới khác. Thiên Thai, hay Thiên Đàng là như thế này ư? Được cung phụng hết mình, đêm nào cũng Nhất Dạ Đế Vương, nhưng làm sao quên được trần gian cực khổ?
 Trần gian khổ cực, có điều gì không thể quên? Hóa ra là, anh có thói quen không thể bỏ: cứ 5 giờ sáng thức giấc, mò ra đầu ngõ, nhìn đoàn xe lửa phóng qua.
 Câu chuyện chấm dứt khi cảnh sát mò tới, anh nhân viên bỏ Thiên Đường/Địa Ngục, cứ hướng Địa Ngục/Thiên Đường mà chạy. Cảnh sát chỉ kịp chứng kiến cảnh tượng anh gối đầu lên đường ray, trong khi chuyến xe tốc hành buổi sáng đang lao tới…
 George Steiner, trong một bài phỏng vấn trên tờ Điểm sách Paris, đã coi Simenon là tiểu thuyết gia dị thường nhất của thời đại chúng ta. Ông phân biệt: “Có những cuốn tiểu thuyết mà người ta gọi là lớn, chúng sống do nội dung mang tính ý thức hệ, mang tính trí thức. Khá nhiều tiểu thuyết của Thomas Mann là theo kiểu này. Cuốn Người Không Phẩm Chất (Man Without Qualities), của Musil, được hằng hà những triết gia cũng như là những nhà phê bình văn học bàn về nó. Nhưng cái này hiếm. Đừng đòi một chuyện như thế, ở nhà tạo giả tưởng dị thường nhất của thời đại chúng ta - đừng cười tôi chứ, bạn! - người đó là Georges Simenon. Tôi có thể lấy trên giá sách của tôi, chừng 10 hay 12 cuốn về Maigret, và nếu phải so với 5 hay 10 trang của Balzac, hay 20 trang của Dickens (ông này nhẩn nha thuộc bậc thầy, Balzac cũng vậy): Simenon chỉ cần hai hoặc ba đoạn. Có một cuốn Maigret mở ra với một tiếng ồn lớn. Ba giờ sáng tại khu Pigalle, khu phố cổ đèn đỏ Paris, tay chủ quán rượu kéo tấm sắt đóng cửa tiệm. Rầm một tiếng. Dội ra từ đó, là tiếng xe giao sữa, tiếng chân kẻ ăn sương trở về nhà kiếm giấc ngủ, tiếng người đi vô Khu Cầu Muối (Les Halles) kiếm đồ ăn sẵn, cho một ngày đang ló dạng. Simenon không chỉ đem đến cho bạn một thành phố, không chỉ một điều không một sử gia nào có thể vượt được, về nước Pháp, nhưng còn điều này: rằng hai hoặc ba con người liên quan tới câu chuyện, đã sẵn sàng trước mắt bạn. Bằng một cách nào đó, Simenon cho bạn nhận ra rằng những bước chân của người đàn ông vừa đóng sập tấm cửa, rồi những tiếng chân rời xa quán, cách chúng lết đi gợi sự tò mò. Và thế là bạn nhập vô mấu chốt quan trọng thứ nhất của câu chuyện. Đó là cái gọi là mysterium tremendum (điều rất thiêng), về sáng tạo ra một nhân vật tự chủ.”
 Mysterium tremendum, Jacques Derrida trong bài viết về Kierkegaard, đã dịch là: bí ẩn đáng sợ, bí mật làm bạn run rẩy (a frightful mystery, a secret to make you tremble). Cũng trong bài viết, ông giải thích thêm: (God is the cause of) Thượng Đế là nguyên nhân của “the mysterium tremendum”.
 Theo nghĩa đó, nhà văn là kẻ muốn ngang hàng với ông Trời.
 Nhân vật “thần kỳ” Maigret, viên thanh tra cảnh sát với chiếc ống vố, được “người viết giả tưởng dị thường nhất của thế kỷ” sáng tạo ra vào năm 1929, trong cuốn “Pietr le Letton”. Được nhà xuất bản Fayard tung ra vào năm 1931, ông cò Maigret lập tức trở thành nổi tiếng, và càng nổi tiếng hơn nữa, khi được đưa lên màn ảnh qua tài tử Jean Gabin.
 Như trên đã nói, Simenon sử dụng một thứ tiếng Pháp phổ thông, không dùng những chữ cầu kỳ, không “cố tình viết văn”, nhờ vậy mà mà Jennifer tôi được hân hạnh làm quen với ông rất sớm, từ những ngày mới chập chững đọc văn ngoại: như một cách học tiếng Tây!
 Mai Thảo cũng là một người rất mê Simenon. Một lần ngồi quán Cái Chùa, La Pagode, tại đường Tự Do, Sài Gòn (trước 1975), ông kể một giai thoại về Simenon, theo đó, tác giả đã từng tự giam mình vào trong một nhà kiếng, chung quanh thiên hạ qua lại, nhòm ngó, và cứ thế tỉnh bơ ngồi viết. Khi ra khỏi “chuồng giam”, là đã có, không phải một, mà hai cuốn tiểu thuyết! Theo Mai Thảo, đây là do ông nhận lời thách đố của một tờ báo.
 Cuốn Maigret sau cùng, Maigret et Monsieur Charles, xuất hiện năm 1972, sau đó Simenon nghỉ viết. Với chiếc máy ghi âm, ông đọc hai chục bài “Dictées”, và sau khi cô con gái Mari-Jo tự tử, ông ghi lại mớ hồi ký khổng lồ về đời mình, Mémoires intimes (1981).
 Simenon mất tại Lausanne vào năm 1989. Cả đời, ông cố gắng hiểu, thông cảm nỗi đau của nhân sinh, của cõi người, và cố gắng làm cho nó đỡ đau. Nhưng ông không làm sao hiểu nổi nỗi đau của cô con gái: cô đã lầm tình yêu của người cha, với tình yêu của một người bạn trai.
Niềm bí ẩn đáng sợ!
Nghệ Thuật Ðen

Đúng như Camus đã thú nhận sở dĩ có sự phi lý là ở nơi con người nhiều hơn ngoại vật, sự phi lý mà Camus mang trùm lên cho kiếp người vĩnh viễn chỉ có ở những người như Camus đã mất huyễn ảnh của tuyệt đối nhưng vẫn không ngừng luyến tiếc nó, sống giữa đời vẫn bị nó ám ảnh khiến cho thấy mọi việc làm ở đời đều vô ích luống công. Không muốn tự sát trong tư tưởng giống như những triết gia khác ở Tây phương tìm lối trở về với Tuyệt Đối do chính mình phóng tưởng, không phải là Thượng Đế cụ thể của tôn giáo, nhưng cũng không có can đảm dứt bỏ tuyệt đối trở về hẳn với đời sống thế tục, Camus đã chọn một bình diện trung gian giữa thế tục và Thiên Đường đã mất, đứng làm một kẻ Juste ở lưng chừng trời cảm thông vào việc đời biết là chẳng đi đến đâu mà vẫn hành động, hành động để nhắc nhở đến một thế giới tuyệt đối mà chính Camus biết rõ là không thể có, sự phi lý nằm sỗ sàng trong thái độ của Camus đó vậy. Đứng ở bình diện trung gian – làm gạch nối giữa tuyệt đối hư vô và cuộc đời hiện thực – tất nhiên sẽ nhìn thấy kiếp người vĩnh viễn chỉ là một chuỗi hành động vô nghĩa; những kẻ tìm được cái thế giới tuyệt đối cho họ cũng không nhìn đời phi lý như thế, từ trên cao ấy họ có thể trông thấy cái ý nghĩa của kiếp sống qua những phản ảnh của tuyệt đối ở nơi ấy. Khi đã chối nhận tuyệt đối, không thèm luyến tiếc bởi đã biết nó không có và chẳng bao giờ có, sống trong những cảnh ngộ hiện thực thì ý nghĩa của mỗi hành động tương quan với một cảnh ngộ trong sự giải phóng ra ngoài cảnh ngộ, giá trị của hành động không quy định bởi cái mù mịt của trống không. Người ta chẳng quyết định được tương lai để chứng thực hành động nhưng cũng chẳng phải người ta không có tương lai, tương lai sẽ đến bằng hành động của mình cùng với mọi kẻ khác và hành động ngoài ý nghĩa quy định bởi cảnh ngộ hiện thời còn có một ý nghĩa quy định bởi tương lai đã thành hình, quy định bởi kẻ khác, có thể là ngoài ý hướng của mình: ý nghĩa thứ nhất là ý nghĩa xã hội của hành động; ý nghĩa thứ hai là ý nghĩa lịch sử vậy. Camus thường thanh minh rằng ông không phải là một triết gia, đúng. Ông là một nhà văn luân lý kiểu Tây phương đó vậy, cho nên có gọi ông là nhà văn cổ điển ở thế kỷ XX cũng không phải là quá. Khi ông viết L’homme révolté, thuật lại cuộc phiêu lưu ý thức của ông cũng là lúc chấm dứt cuộc phiêu lưu ấy, những tác phẩm sau không mang thêm nhận thức nào mới lạ, chỉ củng cố cho một địa vị đã vững vàng trong các tủ sách của các bậc trí thức muốn học đòi theo ông, của các thư viện đại học rất bảo thủ, đưa ông tới diễn đàn Hàn lâm viện Thụy Điển nhận lấy vòng hào quang trao tặng đứa con hoang đàng trở về ngoan ngoãn dưới mái nhà đã có lần nó vùng vằng bất mãn bỏ đi. Cái chết bất ngờ nhốt luôn Camus vào quá khứ.

*
Ðây là cách đọc Camus, có thể nói, trước cú 11/9. 
Vargas Llosa cũng chê Camus y chang TTT, cho đến khi cú 11/9 giáng trúng ông, trong lần tranh cử tổng thống, hình như vậy, vì qua bài viết mà Gấu được đọc, ông chỉ nói sơ qua.
Nói rõ hơn, chỉ một khi cái kiểu suy nghĩ, hoặc mi là CS hoặc mi phải Chống Cộng, đã qua đi, thì người ta mới đọc ra Camus.
Hai mươi năm trước đây, Albert Camus là một tác giả thời thượng; những kịch phẩm, tiểu luận và tiểu thuyết của ông giúp những người trẻ tuổi, sống. Vào lúc đó, bị ảnh hưởng Sartre, say mê những tư tưởng của ông ta, tôi đọc Camus mới ngán ngẩm làm sao, và nhiều khi còn bực bội về cái gọi là chất trữ tình làm ra vẻ trí thức của ông!
Sau đó, khi tác phẩm di cảo của ông, Sổ Ghi [Notebooks], được xb, vào năm 1962 và 1964, tôi bèn đi vài đường tạp ghi, bằng một giọng văn tầm phào, bố lếu bố láo, phiến diện, tôi chụp cho cái xác của ông một cái nón mầu ‘xám chưa đủ xám’[a ‘premature greyness’]. Dựa vào thái độ của ông trước thảm kịch Algeria - một vị trí mà tôi thật sự chẳng hiểu cái chó gì, hò theo những kẻ thù, đối thủ của ông, không chịu đọc thẳng ông, tôi tự cho phép mình vẽ ra một hình ảnh tiếu lâm về ông, một kẻ công chính, một ông bình vôi, the lay saint, mà những đệ tử của ông để lên bệ thờ và cứ thế xì xụp!
Tôi đếch thèm đọc ông, cho mãi tới mấy tháng trước đây, may mắn làm sao, trong khi theo dõi một vụ khủng bố tấn công ở Lima [ở Sài Gòn, do tay khủng bố VC nằm vùng DH, cũng một đệ tử của ông, thực hiện! Hà, hà!]… . tôi lại mở ra Kẻ Nổi Loạn, một tiểu luận của ông về bạo động trong lịch sử mà tôi đã quên mẹ nó từ lâu (hay, chẳng bao giờ hiểu được).
Ui chao, đúng là một mặc khải.
Cú tìm tòi, nghiên cứu của ông về những nguồn gốc triết học của khủng bố, món quà quí báu [đặc sản Nam Bộ của đám VC nằm vùng đem đến cho dân Miền Nam, trong có Gấu, đã từng xơi hai trái mìn cờ lê mo của DH hoặc bạn của ông!] của lịch sử đương thời, làm cho tôi kinh ngạc đến mất hết cả hồn vía, vì cái sự sáng suốt, cái sự xác đáng nóng bỏng của nó, cùng với nó là những câu trả lời cho những hồ nghi và sợ hãi mà tôi cảm thấy, về thực tại đất nước tôi. Tôi sướng điên lên, khi khám phá ra rằng, một số những nan đề về chính trị, lịch sử và văn hóa, của riêng tôi, sau bao nhiêu lần vấp ngã, sa sẩy, té lên té xuống, sau cùng đã đi đến những kết luận, những giải đáp y chang của ông Camus!
Trong mấy tháng sau đó, do tôi cứ thế đọc đi đọc lại ông, sau bao bất đồng không thể tránh khỏi, cuối cùng tôi thấm đòn, gật gà gật gù chịu ông, và biết ơn ông.
Sau đây, tôi sẽ đi vài đường, về cái hình ảnh mới mẻ mà tôi nhìn ra ở nơi ông.
Như Camus viết: “Đời sống thì tự do cho mọi người và đúng là cho tất cả” [“Life is free for everyone and just for all”], một khi mà chúng ta đăng nhập vào cuộc chiến đấu này, và đeo đuổi nó cho tới khi chiến thắng, kệ mẹ ai nói gì thì nói, thù nghịch gì cũng kệ cha, thì khi đó, đọc đi đọc lại Camus, mới càng thấy quí giá vô vàn đối với chúng ta.
Lúc ấy từ ngoài cổng lại nghe tiếng giầy của thằng bồ đi vào, lão Chà bị mùi dầu thơm làm choáng váng vẫn gục đầu trên ngực của con nhỏ, lão nói:
- Em cứ nằm vậy và cho qua được nằm gần em vậy.
Thằng bồ nhặt một thanh sắt cầm tay đứng giữa sân rình rập. Con nhỏ lắng tai thấy tiếng giầy im lặng, bất thình lình nó xô lão Chà vùng dậy, nhảy xuống đất, ngã chúi va đầu vào tường và la lên:
- Anh ơi.
Nó hốt hoảng chạy vội ra giữa sân ôm lấy thằng bồ. Thằng này hỏi:
- Nó đâu?
Con nhỏ chỉ tay về phía xe hơi nhưng níu tay thằng này lại, lắp bắp trong hơi thở:
- Không có gì hết, chưa có chuyện gì hết.
Thằng này dằng tay ra xăm xăm bước tới, con nhỏ chạy theo níu kéo không được. Lão Chà vịn vào thành xe nhẩy xuống, té và đống dầu nhớt, thằng nhỏ cầm thanh sắt đập liên hồi, con nhỏ bưng mặt khóc. Thấy lão Chà chỉ còn thoi thóp, nó bảo con nhỏ cùng nó khiêng xác lão Chà để lên thùng xe. Con nhỏ thút thít nói:
- Thôi chạy đi anh ơi.
Nó quắc mắt dữ tợn bảo:
- Đừng lôi thôi.
Đặt lão Chà vào đúng chỗ nằm lúc trước của con nhỏ, nó đập bể ve dầu thơm ở bên cạnh, lột hết quần áo của lão liệng vào góc.
- Anh làm gì vậy?
Nó không đáp và truyền lệnh:
- Cởi cái sú chiêng liệng vào đống quần áo đó.
Con nhỏ còn ngần ngừ, nó bật tung nút áo và nắm tay dật đứt cái bao vú liệng vô đống đồ của lão Chà. Vừa lúc ấy lão Chà hồi tỉnh một vài giây, ngửi thấy mình nằm trên dầu thơm, thân thể trần truồng và con nhỏ đang nhìn xuống, ngực nó không cài trắng muốt. Rồi tiếng thanh sắt liệng xuống thành xi măng...

Thanh Tâm Tuyền
Note: Truyện ngắn này, bây giờ được đọc lại, hoá ra là Gấu nhớ lộn cái xen chót, như viết trong bài về DNM: 
Nói một cách khác, không có vụ di cư, không có tờ Sáng Tạo, không có Dương Nghiễm Mậu. Rượu Chưa Đủ "chưa đủ", nó cần một, hay nhiều hình ảnh khác nữa để tự khẳng định, để hoàn tất: chúng bổ túc cho nhau, những đứa con tư sinh của một miền đất. Nói rõ hơn, Dương Nghiễm Mậu là một "dị bản", của một Thanh Tâm Tuyền quá trí thức, quá Tây-phương, quá say mê Malraux... Một Thanh Tâm Tuyền "khác", khô, cứng, thật chững chạc, nhưng cũng thật cảm động... Nguyễn Đình Toàn, lại một Thanh Tâm Tuyền khác nữa, một bên là mặt trời, một bên là bóng đêm, chúng bổ túc cho nhau. Dẫn chứng quá nhiều: Chị Em Hải (Nguyễn Đình Toàn) là một dị bản của kịch Ba Chị Em (Thanh Tâm Tuyền). Đêm Lãng Quên, truyện ngắn được Võ Phiến tuyển chọn ở hải ngoại, khi viết về những tác giả Miền Nam, thoát thai từ một truyện ngắn của Thanh Tâm Tuyền, tôi không còn nhớ tên, viết về ông già gác dan, (gác ga-ra?) cho cặp nhân tình tạm trú, cuối cùng bị gã con trai nện cho sặc máu mũi, gục xuống một đống... Trước khi bỏ đi, gã thét cô bồ: lột cái xú-chiêng ra, ném lên mặt khứa lão! Mùi vị đàn bà, cuộc tình hối hả... làm ông lão tỉnh dậy, thấy mình đang ở Thiên Đàng, hay phía bên kia Địa Ngục (Chiến Tranh)... Hãy so sánh với Đêm Lãng Quên, về một già muốn làm con ong hút nhị từ cô gái.... Chất hung bạo trong thơ Thanh Tâm Tuyền tràn lan ra văn. Ở Nguyễn Đình Toàn, lại là sự tắt nghẹn, hết hơi, của những bóng dáng đàn bà, không còn đủ hơi sức, để kéo lê, thân xác của chính họ: Cái Chết, Cái Sống đều thoi thóp như nhau. Bóng dáng của Thần Chết, của Chiến Tranh lảng vảng ở trước, hoặc sau đời sống: nó vắng mặt, như một từ chối quyết liệt, bởi những con người đứng bên lề...
DNM

Nhìn từ quan điểm đó, chúng ta không thể nào coi Nguyễn Đình Toàn và Dương Nghiễm Mậu là những nhà văn tiểu thuyết mới. Nhân vật của Dương Nghiễm Mậu là những con người có một ý thức sáng suốt đến chua xót về sự cô đơn, bất lực của mình trong một xã hội đang manh nha tan rã, cuối cùng lao vào những hành động "phá phách, nổi loạn", cố tìm một thái độ đạo đức bằng những hành xử vượt ra ngoài quan niệm đạo đức thông thường. Thế giới, khung cảnh truyện của ông "khô, đầy bụi", đầy "tóc rối", trong khi ở Nguyễn Đình Toàn, là một khí hậu ẩm, ướt, với những nhân vật hầu hết là nữ. Truyện của hai tác giả giống như hai mùa mưa nắng ở Miền Nam, trong khi chờ đợi cơn bão tố chiến tranh xóa sạch tất cả.
Tiểu thuyết mới ở Việt Nam
Thì cứ cho rằng, thấy kẻ sang bắt quàng làm họ: TTT và Solz có một số điểm tương tự.
Một, là tính tiên tri: Solz đã từng biết trước, ông sống dai hơn chế độ Xô Viết, và sẽ trở về khi nó sụp đổ.
Solz cũng đã từng biết trước Mẽo sẽ cút, nhưng ông thêm vô: Miền Bắc sẽ làm gỏi Miền Nam.
TTT đã từng gật gù với thằng em, bên ly "cà phe", trong một con hẻm Xóm Gà, gần nhà ông: Miền Bắc sẽ bị chấn thương nặng nề vì chiến thắng này.
TTT không chịu nổi sự thỏa hiệp. Với ông, trắng là trắng, đen là đen.
Solz cũng vậy.
Nhưng với Solz, không phải vấn đề cá nhân: Ông loại ra khỏi đời ông, kẻ nào bẩn, tởm, không tin được, nhưng chỉ có cách đó, để giữ hồi nhớ những khủng khiếp, ghê rợn dưới thời Stalin, cho những thế hệ tương lai; với những người không ưa ông, thì coi đây nhằm che đậy sự phách lối ngông cuồng.
[TTT chẳng đã từng bị coi là kiêu căng, phách lối? NMG chẳng đã từng viết, mang tác phẩm đến tặng TTT, khi ông ghé nhà một người bạn, và khi ra về, TTT đã vô tình, sơ ý, hay cố ý, bỏ quên?]
[He banished from his life everyone whom he suspected of disloyalty, including the most insightful and trustworthy of his biographers, Michael Scammell. For Solzhenitsyn and his defenders it was the only way to preserve the memory of the horrors of Stalinism for future generations; for his detractors, his civic zeal was just a cover for megalomaniacal vanity].
[Khi ông xuất hiện trên chương trình Bouillon de Culture, 18 Tháng Chín, 1993 của TV Tây].
Thực sự, trước 1975, TTT không phải là một nhà thơ được nhiều người yêu mến.
Chính vì vậy, sự bàng hoàng, cơn chấn động ở hải ngoại, khi nghe tin ông mất, chỉ có thể giải thích: Chính sự tiết tháo, cương trực, không khoan nhượng với cả chính mình không kiếm cách làm cho mình được yêu mến... hay ngắn gọn, chính cái sự quá sạch của ông, lại trở thành niềm tin cho tất cả mọi người!
Và như thế, ông lại giống...  Solzhenitsyn, ông này suốt một đời khổ hạnh, làm việc như trâu, không cho mình bất cứ một cơ hội nào bị sa ngã, bị dụ dỗ... bởi cái ác.
Solz cho rằng, chỉ có cách đó, để không bao giờ phản bội những người bạn tù của ông.
*
Về câu hỏi, tại sao đầy tù cải tạo lên phía Bắc, đã có một lần Gấu đưa ra một câu trả lời, khi đọc một số Granta.
Nay có câu trả lời đơn giản hơn của Shalamov:
Nature simplifies itself as it heads toward the poles (and we head north now because so many scores of thousands were doing so, as Stalin's rule developed, and as the camps crazily multiplied). Nature simplifies itself, and so does human discourse.
Thiên nhiên tự giản tiện chính nó khi hướng về phía cực, (và chúng tôi, bây giờ hướng bắc, ấy là vì hàng hàng lớp lớp đã đang làm như thế, khi chế độ Stalin phát triển, khi nhà tù cứ khùng điên nở rộ, tăng trưởng lên mãi). Thiên nhiên tự giản tiện, và cũng vậy, cách ăn nói của con người cứ thế co lại.

Kolyma Tales [Chuyện trại tù Kolyma]


Giỗ Ðầu
Nghệ Thuật Ðen

Đúng như Camus đã thú nhận sở dĩ có sự phi lý là ở nơi con người nhiều hơn ngoại vật, sự phi lý mà Camus mang trùm lên cho kiếp người vĩnh viễn chỉ có ở những người như Camus đã mất huyễn ảnh của tuyệt đối nhưng vẫn không ngừng luyến tiếc nó, sống giữa đời vẫn bị nó ám ảnh khiến cho thấy mọi việc làm ở đời đều vô ích luống công. Không muốn tự sát trong tư tưởng giống như những triết gia khác ở Tây phương tìm lối trở về với Tuyệt Đối do chính mình phóng tưởng, không phải là Thượng Đế cụ thể của tôn giáo, nhưng cũng không có can đảm dứt bỏ tuyệt đối trở về hẳn với đời sống thế tục, Camus đã chọn một bình diện trung gian giữa thế tục và Thiên Đường đã mất, đứng làm một kẻ Juste ở lưng chừng trời cảm thông vào việc đời biết là chẳng đi đến đâu mà vẫn hành động, hành động để nhắc nhở đến một thế giới tuyệt đối mà chính Camus biết rõ là không thể có, sự phi lý nằm sỗ sàng trong thái độ của Camus đó vậy. Đứng ở bình diện trung gian – làm gạch nối giữa tuyệt đối hư vô và cuộc đời hiện thực – tất nhiên sẽ nhìn thấy kiếp người vĩnh viễn chỉ là một chuỗi hành động vô nghĩa; những kẻ tìm được cái thế giới tuyệt đối cho họ cũng không nhìn đời phi lý như thế, từ trên cao ấy họ có thể trông thấy cái ý nghĩa của kiếp sống qua những phản ảnh của tuyệt đối ở nơi ấy. Khi đã chối nhận tuyệt đối, không thèm luyến tiếc bởi đã biết nó không có và chẳng bao giờ có, sống trong những cảnh ngộ hiện thực thì ý nghĩa của mỗi hành động tương quan với một cảnh ngộ trong sự giải phóng ra ngoài cảnh ngộ, giá trị của hành động không quy định bởi cái mù mịt của trống không. Người ta chẳng quyết định được tương lai để chứng thực hành động nhưng cũng chẳng phải người ta không có tương lai, tương lai sẽ đến bằng hành động của mình cùng với mọi kẻ khác và hành động ngoài ý nghĩa quy định bởi cảnh ngộ hiện thời còn có một ý nghĩa quy định bởi tương lai đã thành hình, quy định bởi kẻ khác, có thể là ngoài ý hướng của mình: ý nghĩa thứ nhất là ý nghĩa xã hội của hành động; ý nghĩa thứ hai là ý nghĩa lịch sử vậy. Camus thường thanh minh rằng ông không phải là một triết gia, đúng. Ông là một nhà văn luân lý kiểu Tây phương đó vậy, cho nên có gọi ông là nhà văn cổ điển ở thế kỷ XX cũng không phải là quá. Khi ông viết L’homme révolté, thuật lại cuộc phiêu lưu ý thức của ông cũng là lúc chấm dứt cuộc phiêu lưu ấy, những tác phẩm sau không mang thêm nhận thức nào mới lạ, chỉ củng cố cho một địa vị đã vững vàng trong các tủ sách của các bậc trí thức muốn học đòi theo ông, của các thư viện đại học rất bảo thủ, đưa ông tới diễn đàn Hàn lâm viện Thụy Điển nhận lấy vòng hào quang trao tặng đứa con hoang đàng trở về ngoan ngoãn dưới mái nhà đã có lần nó vùng vằng bất mãn bỏ đi. Cái chết bất ngờ nhốt luôn Camus vào quá khứ.
Ui chao, mới đọc lại một tí, mà thấy sướng điên lên được!
Gấu "1973" đây ư?
Muốn tìm một cách đọc khác cho Bếp Lửa, có lẽ phải làm như Marx nói: Giải phóng nó ra khỏi cái vỏ huyền hoặc, để tìm lại cái nhân thuần lý.
Ui chao, hoá ra hồi đó đã "rành" Marx như thế này ư? Mà đọc câu này ở đâu nhỉ
Hình như từ Pour Marx của Althusser?
Nếu thế, có thể đếch phải Marx, mà Althusser phán, và sau này, khi hấp hối, thú nhận [trước bàn thờ], "chúng ta" đã phịa ra cả một nền triết học ảo cho Marx!
Note: Quả là từ Althusser, như trang “note”, tại trại tị nạn Thái Lan, cho thấy. Cuốn Pour Marx này, phải nhờ 1 em Ðầm làm việc tại Phái đoàn Pháp, ra Thư viện Pháp tại Bangkok mượn giùm. Cái em Thái ở đó nói, mi là người độc giả đầu tiên của nó!
Mới lôi ra được mấy trang viết ở Trại. Ngày tới Thái Lan là 19.5.1990. Ðúng Sinh nhật [dởm?] của Bác H. Ghi vô hồ sơ Cao Uỷ trật đi 1 ngày: 20.5.1990.
Như vậy Gấu sinh sau Bác 1 ngày.
*


La dialectique chez Hegel est la tête en bas. Pour découvrir dans la gangue mystique le noyau rationel, il faut la renverser.
Cuốn Essais Critiques của Barthes, G đọc thời mới lớn, nhờ nó mà vượt… Sartre, nghĩa là bỏ qua liền tù tì được mấy cái câu hỏi vớ vỉn, viết là gì, viết cho ai, viết làm cái chó gì… v v… của ông.
Ðọc cùng thời với những cuốn như Triết học nhập môn của Nguyễn Ðình Thi, với Duy vật biện chứng của Henri Lefèbvre…
Nhờ vậy mà đọc ngay ra Bếp Lửa, được ông Chánh Tổng An Nam khen nức nở, khi ông đi 1 đường tưởng niệm ông anh nhà thơ của GNV, lần ông đi xa.
Khi viết những dòng về Bếp Lửa, [Bếp Lửa trong Văn Chương], so sánh trường hợp nó ra đời, thành công, cũng như thất bại của nó với trường hợp cuốn La Nausée của Sartre, Gấu này vẫn nghĩ mình là kẻ độc nhất nhìn ra điều này.
Phải đến khi đọc bài tựa cho ấn bản tiếng Anh của cuốn “Không độ của cách viết”, của Susan Sontag, Gấu mới sững sờ, vì bà cũng nhìn ra điều này. (1)
Tuyệt thật. Ðúng là trí nhớn, nhỏ gì cũng gặp nhau!
Phải nói là bài học của Barthes quá tuyệt vời với riêng Gấu: Viết thế nào mới quan trọng! Mấy truyện ngắn đầu tay của Gấu quả là đã thực hiện được 1 phần nào giấc mộng văn chương của GNV: Trước đó, không Mít nào viết như thế.
Và, cả sau đó, cũng chưa có ai viết được như thế!
Hà, hà!
[Cũng xin đi 1 đường tiểu chú, nhắn nhủ ở đây: Trang TV, dù thế nào đi chăng nữa, vẫn chỉ là 1 trang nhà, chủ nhân của nó rất nhiều khi tự thổi hắn ta. Mấy vị không ưa trò này, xin mời đi chỗ khác chơi, để khỏi bực mình viết mail chửi Gấu! Ða tạ!]
Ðừng có nghĩ là Gấu này làm phách, láu cá chó…
Bởi vì cho đến nay, cõi văn Mít vẫn chết cứng vì những câu hỏi của Sartre! Chính vì những “chói lọi”, sáng suốt ‘cực’, bước ngoặt lịch sử “vĩ đại”, chính vì thứ văn chương lạm dụng tu từ, thùng rỗng kêu to, nên Roland Barthes mới đề nghị một cách viết ở không độ, một thứ viết trung tính, một cách viết trắng của Camus, của Blanchot, hay của Cayrol, thí dụ vậy, hay cách viết nói [l'écriture parlée] của Queneau, và đây là chương hồi chót của một Đam mê viết, theo từng bước với sự tan hoang của ý thức trưởng giả [le dernier épisode d’une Passion de l’écriture qui suit pas à pas le déchirement de la conscience bourgeoise]. Roland Barthes: Le Degré de l’écriture. Introduction.
*
Bản tiếng Anh của Độ không của cách viết, có bài Tựa của Susan Sontag, nhà văn Mẽo, bà viết, địch thủ đặc thù, the specific adversary, của luận cứ của Barthes, là… Sartre. Đây là câu trả lời của Barthes nhắm vào tác phẩm Văn chương là gì? của Sartre (1). Bà đưa ra thêm một số chứng liệu về ngày tháng: Mặc dù Độ không được xb năm 1953, những chương hồi của nó đã được in trong nhật báo Chiến Đấu vào năm 1947, cùng năm Sartre cho xb cuốn sách của ông. Chương I của Sartre, và phần thứ nhất, first section, cuốn Độ không có cùng tít: Viết là gì?

(1) "Mèo khen mèo dài đuôi", Gấu đã nhận ra điều này, khi viết về Bếp Lửa của TTT. Bài Tựa của Susan Sontag viết năm 1968. Bài của Gấu, xuất hiện sau bài viết của ST chừng mấy năm, đăng trên Tập San Văn Chương, sau đăng lại trên Văn, số đặc biệt về TTT, 1973:
Phải chăng cuốn Bếp Lửa cũng gặp một “tao ngộ” ly kỳ như cuốn La Nausée, Buồn Nôn, của Sartre? Sartre, suốt đời đam mê, theo đuổi cách mạng, vậy mà khi có dịp được "làm cách mạng", ông lại để lỡ: Cuộc cách mạng văn chương ở Pháp, với những nhà văn như A.R. Grillet, Butor, những phê bình gia như Barthes, Genette…đã khởi đầu từ Buồn Nôn, từ những điều Sartre phát hiện nhưng lại vô tình bỏ qua.
*
Câu thơ, bài thơ mới, đọc qua thấy ngay. Câu văn, cuốn truyện mới, khó nhận ra hơn. Người bình luận phải phân biện: mới so với cái gì, và mới ra sao. Nhưng điều cụ thể nhất lại là: người đọc đương thời có nhận ra nét mới ấy không?
Thưa rằng có. Nhà văn Nguyễn Quốc Trụ, 1973, trên báo Văn, số đặc biệt Thanh Tâm Tuyền đã dẫn, có một bài viết căn cơ trình bày giá trị, nghệ thuật và tính chất súc tích của truyện Bếp lửa, 1957. Ông trích dẫn cặn kẽ nhiều văn bản, nhiều tham khảo, để lại một chứng từ chính xác.
Đặng Tiến viết về sự  ra đi  của Thanh Tâm Tuyền
Note: Tks. NQT
*
Ghi chú:
Bài điểm sách trên đây, đăng trên 1 tờ báo địa phương ở Los Angeles, thời gian 1998, đã đến với tác giả cuốn sách được điểm một cách thật là bất ngờ, và cũng thật là thú vị.
Một bữa, chuông điện thoại reo. Điện thoại viễn liên, do tiếng reo khác với nội địa.
Người bên kia hỏi: Biết ai không? V. đây, còn nhớ không?
Hóa ra là một cố nhân. Đã từng quen nhau những ngày còn Sài Gòn. Qua những con bài, những canh xì tẩy.
Anh hồi đó làm ngành thuế vụ. Quen hầu hết đám viết lách, và đều qua con xì, con đầm.
Thế rồi có dịp qua Mỹ, gặp lại.
Anh chìa ra bài điểm sách trên, cắt từ một tờ báo địa phương. Hỏi báo nào, lắc đầu, nói không còn nhớ.
Cuối bài điểm sách, cũng không thấy tên tác giả.
Đọc, rõ ra một cố nhân trong ngành nghề.
V. cho biết, chính nhờ bài điểm sách mà anh biết GNV đã thoát ra ngoài được, và sau đó, anh đã liên lạc với nhà xuất bản, và có được số phôn.
V. thú nhất, là cảnh thằng bé bồi bàn gặp gỡ ông thầy, tại quán chả cá Thăng Long, và sau đó được ông thầy cho học miễn phí.
Quán sau đó đổi thành snackbar Kon Kiti, dành riêng cho quân đội Mỹ khoái món đặc sản - không phải chả cá - ngay tại đầu cầu Sài Gòn.
NQT

For the (sterile) old question: why write? Marthe Robert's Kafka substitutes a new question: how write? And this how exhausts the why: all at once the impasse is cleared, a truth appears. This is Kafka's truth, this is Kafka's answer (to all those who want to write): the being of literature is nothing, but its technique.
Source
Ðối với câu hỏi cũ mèm, khô cằn, hết còn đẻ đái, tại sao viết, Kafka của MR thay bằng câu, viết thế nào, cái thế nào làm cạn kiệt cái tại sao, liền lập tức, “cùng tắc thông”, 1 sự thực xuất hiện. Ðó là sự thực của Kafka, đó là câu trả lời của Kafka (cho tất cả những ai muốn Dziết) [Viết đọc giọng Nam Kít]: Cái hữu của văn chương đếch là cái đéo gì, ngoài kỹ thuật của nó!
Phải viết kiểu "vô học" [1] như vậy, thì mấy đấng nhà văn Bắc Kít mới thông được!
(1) “Thái Dúi” mail cho Gấu: Ông đúng là 1 tên vô học
Thái Du Trương
May 30, 2010
Ông đúng là 1 kẻ vô học


Câu văn mặc khải GNV đọc Marthe Robert, qua Barthes, mở ra cõi văn của Những Ngày Ở Sài Gòn!


























Comments

Popular posts from this blog

TDT

Bi Khúc

Hoàng Hạc Lâu