Viết như không viết

Viết như không viết



Đúng như The Great Bolano, [nhà văn Gấu vĩ đại!] đã từng tuyên bố, trong dịp nhận giải thưởng Romulo Gallegos Prize, vào năm 1999:
“Có một người nào đó nói, xứ sở của nhà văn là ngôn ngữ của anh ta. Nghe thì thật là bất cần địa lý, nhưng tôi đồng ý với người này.”

Nhưng sau đó, nhà văn vĩ đại Bolano phán tiếp, rất ư là bảnh, và rất ư là ấn tượng, [và nhà đại phê bình có lẽ cũng nên ghé mắt đọc, để hiểu ra một kinh nghiệm viết văn, của một bậc thầy]:

that it's true that a writer's country isn't his language or isn't only his language. . .. There can be many countries, it occurs to me now, but only one passport, and obviously that passport is the quality of the writing. Which doesn't mean just to write well, because anybody can do that, but to write marvelously well, though not even that, because anybody can do that too. Then what is writing of quality? Well, what it's always been: to know how to thrust your head into the darkness, know how to leap into the void, and to understand that literature is basically a dangerous calling.

Đúng, xứ sở của Gấu không là tiếng Mít, không chỉ là tiếng Mít… Có thể có nhiều xứ sở, như chuyện xẩy ra cho Gấu bây giờ, nào là nước Bắc Kít, nước Nam Kít, xứ Lèo, xứ Thái, xứ Ca na điền, nhưng chỉ có một cái giấy thông hành. Và cái thông hành này, hiển nhiên, là cái gọi là phẩm chất của cái viết ra. Điều này không có nghĩa là viết bảnh, [bất cứ ai mà chẳng làm được chuyện này], nhưng mà là viết thật là bảnh, thật là tuyệt vời, [vưỡn, bất cứ ai mà chẳng làm được, ngay cả chuyện này].

Vậy thì phẩm chất của viết là cái chó gì?

Nó luôn luôn là cái này này:
Là đâm đầu vào cái lỗ đen được gọi là Cái Ác Bắc Kít, là lao vào trống không, và hiểu ra điều, văn chương là một thiên hướng thật nguy hiểm: Gọi tên Cái Ác Bắc Kít!

Hà, hà!
Note: Tin Văn mới mò ra cái "ký" của Trần Vũ, “Lưng Trần”, post lại ở đây. 
Cái link cũ [Hợp Lưu] broken.
Đọc còm của độc giả Chợ Cá, về bài ký của Trần Vũ, Gấu ngộ ra một sự thực, về cái đọc của độc giả quyết định “số phận” cái diễn đàn của họ.
[Chợ Cá đâu phải bản chất là Chợ Cá, nhưng mà do những người hội họp ở một nơi, và nơi này từ đó có tên là Chợ Cá!]
Mr. TV dùng hình ảnh khoảng lưng trần đẹp ơi là đẹp của phụ nữ, để làm bật lên tấm lưng trần đầy sẹo của một người đàn ông, và nhân đó, nói về cái lưng trần "da beo" của chính TV.
Còn chuyện cái bụng đàn bà Mít đẻ ra cả một lũ ngu Mít, trong có Gấu, tất nhiên, lại là chuyện khác!
Cái tay thi sĩ ở trong nước, nhìn ra hình ảnh Chợ Cá, khi nó chưa là Chợ Cá, quả là thần sầu!

NQT




alt
Dân chúng chạy loạn qua cầu Trường Tiền Huế "Tết Mậu Thân"


Lưng trần là khoảng thân đẹp nhất của phụ nữ. Còn lưng đàn ông? Lưng đàn ông thường mang vết chém của người khác. Đôi khi do tự mình chém lấy. Lưng đàn ông Huế mang đầy thương tích của nội chiến. Còn lưng tôi? Viết ký, là trục xuất linh hồn. Nhưng tôi chỉ dám trục xuất dè sẻn. Giống vén áo, phơi một khoảng lưng và viết trên da lưng này. Lưng trần là vậy.

Trần Vũ, Hợp Lưu

Note: Link broken. GCC mới kiếm thấy ấn bản mới, ở đây

Tuyệt!
Đây có lẽ là bài viết tuyệt tuyệt của Trần Vũ, về Huế.
Và về Võ Đình.

Ui chao, giá mà Gấu đi được một đường như thế này, để tặng ‘hai bà ngoại’ của Tin Văn!
Thôi đành muợn hoa hiến Phật [Bà] vậy!
NQT
*
Kính bác Gấu,
Cháu thấy bác Gấu đọc nhiều, cho cháu hỏi về một cuốn truyện.  Năm 1982, bà ngoại cháu mượn đâu đó, đem về cho cả nhà coi.  Cuốn truyện viết về thời Việt Minh chống Pháp, bắt giới tiểu trí thức lên rừng tẩy nảo, giam vào những trại tù để viết tự kiểm điểm.  Trong đó là chuyện tình của chàng tiểu trí thức với một nàng cán bộ kiểm giáo.  Từ ngày qua đây, lớn lên, cháu vẫn để tâm tìm lại nhưng không thấy tái bản.  Trên văn đàn, cũng không thấy ai nhắc tới.  Đọc trên Da Màu, cháu thấy chú và mấy "bạn già" của chú nhắc về chuyện xưa tích cũ, vậy chú đã đọc cuốn "Cõi Đá Vàng" của bà Nguyễn Thị Thanh Sâm chưa?  Có thể nào chú dọ hỏi giùm cháu tông tích của cuốn truyện đó?  Bà ta là ai mà viết về CS thật kinh khủng.  Nếu thật sự tuyệt tích giang hồ, văn học miền Nam của mình mất một tác phẩm tuyệt vời.  Tiếc hùi hụi!  Một câu trích trong cuốn truyện đó vẫn in hằn trong trí nhớ của cháu: "Có gì lạ đâu em ơi, trong cơn mê này của nhân loại, mà ta được chọn làm thí điểm."
Trần Vũ là thần tượng của cháu.  Chưa kịp nói, chú đã giới thiệu bài ký mới rồi, lẹ thật.  Cháu cũng như anh ta, mê Phan Nhật Nam, mê Erich Maria Remarque, mê Herman Hesse...  Đọc ký của anh ta, cháu thấy cháu, có điều, anh ta đi trước ba bốn năm và anh ta viết lên được thành văn.  Viết thật tuyệt vời.
Vu+a di lam ve doc bai cua T-Vu, sau sa+c qua, hen chi ma nguoi ta nga'n T-Vu.
Bac oi, du+ng dang tren web lam chi - co gi ma da+ng...
Phúc đáp:
Có đấy.
Gấu chưa hề thích, bất cứ một cái gì từ Mr. TV [Không phải Mr. Tin Văn]. Anh ta cường điệu quá. Đây là cú viết đầu tiên của anh ta, không cường điệu, và quá bảnh.
Trường hợp TV làm Gấu nhớ đến một xen trong Thạch Kiếm. Tay kiếm sĩ này bị kẻ thù săn đuổi, được một em kỹ nữ chứa chấp. Thấy mặt mày kiếm sĩ căng thẳng quá, em kỹ nữ mới đi một đường truyền dậy bí kíp đánh đàn, và em nói, y chang bí kíp đấu kiếm.
"Căng quá, thì giống thế này này”, và em cầm kiếm đi một đường đứt hết dây đàn.
Đại khái vậy.
Một tay kiếm sư trong phim Scaramouche mà Gấu coi từ hồi nhỏ cũng phán, cầm kiếm như cầm chim. Chặt quá, nó nghẹt thở, chết; lỏng quá, nó bay mất.
Từ trước giờ TV cầm chim chặt quá, chết mẹ mất chim. (1)
Bây giờ mới biết cầm! NQT
(1) Cái tay cầm lỏng quá, theo Gấu, là me-xừ Đỗ KH.
Còn một tay nữa, cầm chim cũng chặt quá, mặt mày hầm hầm, như sắp O.K. Corral tới nơi, thấy ớn, là PNH.
Đố bạn biết là ai?

Lưng trần là khoảng thân đẹp nhất của phụ nữ. Còn lưng đàn ông? Lưng đàn ông thường mang vết chém của người khác. Đôi khi do tự mình chém lấy. Lưng đàn ông Huế mang đầy thương tích của nội chiến. Còn lưng tôi? Viết ký, là trục xuất linh hồn. Nhưng tôi chỉ dám trục xuất dè sẻn. Giống vén áo, phơi một khoảng lưng và viết trên da lưng này. Lưng trần là vậy.
Trần Vũ, Hợp Lưu [broken]
Lưng Trần (1)

Tuyệt!
Đây có lẽ là bài viết tuyệt tuyệt của Trần Vũ, về Huế.
Và về Võ Đình.
Ui chao, giá mà Gấu đi được một đường như thế này, để tặng ‘hai bà ngoại’ của Tin Văn!
Thôi đành muợn hoa hiến Phật [Bà] vậy!
NQT
Vả chăng, những kẻ thật biết viết văn ở đời, ban đầu nào có ý định viết văn?
(Lý Trác Ngô. Tựa Tây Sương Ký).

Trên Blog VOA, thấy nhà đại phê bình đang dậy thiên hạ viết văn, trong khi ông ta chưa từng viết văn:
Cần nhất là biết gây ấn tượng

Có nhà văn Mít nào gây ấn tượng bằng Trần Vũ?

Vừa xuất hiện là chấn động giang hồ.

Đọc TV, Gấu tự hỏi, và chờ hoài, khi nào ông này hết gây chấn động giang hồ, thì may ra mới biết viết văn!

Nhà đại phê bình rất mê, được thiên hạ xum xoe, xúm xít, như có lần 'thú nhận', 'tôi muốn bài viết nào của tôi, khi vừa xuất hiện, là thiên hạ xúm xít vào mà còm um lên'!

Đừng nghĩ, Gấu này chọc quê ông ta, khi cứ nhắc đi nhắc lại, “chưa từng viết văn”.
Bởi vì chính là chưa từng viết văn cho nên ông ta không thể nào hiểu được, một cái điều rất cơ bản, là.. viết.

Có vẻ như cái thời của phê bình gia “không cần viết văn” đã qua rồi.
Nhà đại phê bình hình như trơ ra, thành một thứ khủng long thời tiền sử.
Những nhà phê bình kiểu này, ở trong nước, thí dụ Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, ý thức được điều này, viết khiêm tốn hơn, xoáy vào những mảng chuyên môn, chỉ họ mới rành rẽ, khác hẳn giọng huênh hoang khoác lác của con khủng long hải ngoại!
Những nhà văn hiện thời đa số nếu không nói hầu hết, đều là những nhà phê bình bậc thầy.

Coetzee viết tiểu luận sợ bảnh hơn viết văn!
Salman Rushdie, Banville, Martin Amis, Calvino... Ông nào nào cũng viết tiểu luận, phê bình.
Faulkner chửi đám hoạn quan, nhưng có phải ông không biết viết phê bình đâu? Những bài phê bình là kinh nghiệm sáng tác của ông.
Một số thi sĩ, như Brodsky, như Milosz, viết tiểu luận mà chẳng quá hách ư?

Cái thứ văn chương "viết mà như không viết" mới là thứ đứng đầu thiên hạ, đúng như Kim Dung phán, vô chiêu thắng hữu chiêu!
*
Còm cho TV:
Đọc bài Lưng Trần của T-Vũ, có mơ tôi cũng không đọc được như vậy. Đọc xong thấy các bài viết khác sao nhạt nhẽo quá.
Những câu viết này in đậm trong trí tôi:
Tôi ý thức rất rõ, đang đi trên Đại lộ Kinh hoàng.
Tưởng tượng tác giả ý thức đang đi trên con đường kinh hoàng ngày xưa thì đúng là ông đang lạnh xương sống đi, nếu trên con đường này có thân nhân mình chết. Nhưng ông đã nhìn Huế của người khác thì người nào chết cũng là thân nhân của ông!
Có ra đến La Vang mới thấy khốc liệt của chiến tranh, tiêu hủy, phá hủy, tàn phá không chừa một thứ gì. Những người lính Cộng hòa chết ở đây. Chết cho tôi lành lặn đi học, cho gia đình tôi bình an buôn bán. Nhà thờ La Vang sập mái hiu hắt, không bóng người, chỉ vài chân nhang còn cháy.
Một liên tưởng ấn tượng. Bây giờ nhà thờ La Vang linh lắm, nhiều người đến xin ơn và được ơn.
Khi kể lại ở Ba Lê, giọng Võ Đình đầy tâm linh.
Làm sao để cơm áo gạo tiền đi ra khỏi các ưu tiên của mình thì may ra giọng nói mới có chút gì tâm linh. Con người không còn tâm linh thì còn cái gì?
Phan Nhật Nam cho tôi rất nhiều, ý thức quốc gia và cả sự kiêu hãnh Cộng hòa, không có anh, tôi sẽ thất lạc.
Khi mà lịch sử viết một cách khác thì lạc là cái chắc. Đáng sợ thiêt!
Khi Hoàng Phủ trỏ cửa vòm hông của cổng vào Hoàng thành, lối cho voi vào, ông kể: «Tết Mậu Thân, em mình, Hoàng Phủ Ngọc Phan và biệt động nội thành trú bom dưới vòm nì…» Tôi im lặng, vì không thể góp chuyện...,
Xin bái phục Trần Vũ, ông viết chi tiết này làm người đọc liên tưởng đến không biết bao nhiêu cảnh huống khác... nhất là công án 36 : «Trên đường đời, khi gặp người hành đạo, người ta không đón tiếp họ bằng lời hay bằng thinh lặng. Hãy nói cho tôi biết: người ta đón tiếp họ bằng cách nào?"
Ông không biết là tôi nhớ Huế bằng ký ức của người khác. Trong đó có ông. Nhưng tôi không nhớ Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu mà nhớ Ai đã đặt tên cho dòng sông.
Nội công thâm hậu, 15 năm 1994-2009, một độ lùi giỏi thiệt.
Nhưng giữa những câu chuyện, giữa hai cái Huế bây giờ và Pháp bây giờ, là một khoảng trống. Trống rỗng. Không tiếng động, không tâm sự. Chúng tôi không nói về nội chiến Nam-Bắc. Tôi chưa kịp tham chiến, ông đã tham dự. Một cách lý trí, tôi từ chối bút ký Chế ngự cát. Một cách bản năng, tôi thích nhìn ông khề khà, kể gặp Jane Fonda xinh xắn. Nhưng mỗi khi tôi ngồi cạnh ông, lý trí và tình cảm đánh nhau liên tục, lần nào tình cảm cũng thắng. Chiến thắng này là của ông.
Bái phục nữa, bản năng lúc nào cũng thắng!
Khi Hoàng Phủ đến nhà khách, đón tôi ra Phú Bài, những dòng chữ xưa của Phan Nhật Nam như còn chảy qua mình.
G
hê quá, anh-tôi rõ rệt!
Anh hiểu ra có hẹn với Thần Chiến tranh.
Có ai tránh được với cái hẹn của số mệnh? Có, nếu dám sống nghèo, dám nhận trách nhiệm, dám mea culpa. Mấy ai?
Đọc xong chỉ có một cảm nhận : Sợ, sợ và sợ!
Độc giả Tin Văn
Note: Tks. Many tks.
NQT
Gấu thú nhất câu trích này:
«Tết Mậu Thân, em mình, Hoàng Phủ Ngọc Phan và biệt động nội thành trú bom dưới vòm nì…» Tôi im lặng, vì không thể góp chuyện...,

Tôi im lặng, vì không thể góp chuyện...: Tuyệt!
Câu viết về Phan Nhật Nam cũng thật tuyệt
*
Trần Vũ là thần tượng của cháu. Chưa kịp nói, chú đã giới thiệu bài ký mới rồi, lẹ thật. Cháu cũng như anh ta, mê Phan Nhật Nam, mê Erich Maria Remarque, mê Herman Hesse...  Đọc ký của anh ta, cháu thấy cháu, có điều, anh ta đi trước ba bốn năm và anh ta viết lên được thành văn. Viết thật tuyệt vời.
Tks. NQT
Có vẻ như TV bây giờ mới có... độc giả thực sự.
Những chân độc giả?
*
Nhưng tuyệt nhất, với riêng Gấu, phải là những tiểu luận của "nhà văn" W.G. Sebald.
Nhất là cuốn Lịch sử tự nhiên của huỷ diệt.
Đọc cuốn này, là sẽ cảm thấy,
"Tôi ý thức rất rõ, đang đi trên Đại lộ Kinh Hoàng"!

Lưng trần là khoảng thân đẹp nhất của phụ nữ. Còn lưng đàn ông? Lưng đàn ông thường mang vết chém của người khác. Đôi khi do tự mình chém lấy. Lưng đàn ông Huế mang đầy thương tích của nội chiến. Còn lưng tôi? Viết ký, là trục xuất linh hồn. Nhưng tôi chỉ dám trục xuất dè sẻn. Giống vén áo, phơi một khoảng lưng và viết trên da lưng này. Lưng trần là vậy. Trần Vũ, Hợp Lưu
What If… ?
Đọc cái ký mới toanh của Mr. TV, tình cờ, cùng lúc, vớ một số báo NYRB cũ, 19 July 2007, trong có bài của Anita Desai đọc A Tranquil Star: Unpublished Stories, [Ngôi sao trầm lặng: Những chuyện chưa xb], của Primo Levi, dịch từ tiếng Ý.
Anita Desai tự hỏi, liệu có thể dùng từ "playful" để nói về những tác phẩm của Primo Levi, như Sống sót Lò Thiêu, Liệu đây có phải một người ? Về cuộc đời mà ông đã trải qua, nhưng không thể nào, chẳng bao giờ bỏ lại phía sau mình.
Và bà trả lời, đúng là cái tính từ "ấn tượng", "chót", playful, mà một nhà phê bình có thể nghĩ ra được, khi "đọc" Lò Thiêu, khi đang đi trên Đại Lộ Kinh Hoàng, nhưng oái oăm thay, đọc tập truyện, quả là bà chỉ nghĩ đến "một góc trời chỉ biết rong chơi", của TCS!
Tất cả những truyện ngắn trong đó đều gợi nên cái sự rong chơi, vui đùa, cười cợt!
Ấn tượng thật!
Liệu, nếu, giả như, chú chuột giảo thử tối nay đi dự dạ tiệc? Liệu, nếu, giả như cuộc vui tối nay là một cuộc tử chiến giữa người và xe hơi?
*
Đọc còm của độc giả Chợ Cá, về bài ký của Trần Vũ, Gấu ngộ ra một sự thực, về cái đọc của độc giả quyết định “số phận” cái diễn đàn của họ.
[Chợ Cá đâu phải bản chất là Chợ Cá, nhưng mà do những người hội họp ở một nơi, và nơi này từ đó có tên là Chợ Cá!]
Mr. TV dùng hình ảnh khoảng lưng trần đẹp ơi là đẹp của phụ nữ, để làm bật lên tấm lưng trần đầy sẹo của một người đàn ông, và nhân đó, nói về cái lưng trần "da beo" của chính TV.
Còn chuyện cái bụng đàn bà Mít đẻ ra cả một lũ ngu Mít, trong có Gấu, tất nhiên, lại là chuyện khác!
Cái tay thi sĩ ở trong nước, nhìn ra hình ảnh Chợ Cá, khi nó chưa là Chợ Cá, quả là thần sầu!
NQT
*
Cái đoạn mở ra bài ký mới tuyệt làm sao. Thú thực, Gấu không ưa có người thấy mình vãi linh hồn. Vậy mà đọc đoạn này, Gấu thật muốn mọi người chứng kiến cảnh Gấu bị một em mắng, "già rồi khóc hoài con nít nó cười cho", cũng chỉ mới đây thôi!

Thập niên 80 âm u giọng hát Khánh Ly «Ai trở về xứ Việt, nhắn giùm tôi người ấy ở trong tù…», không mấy thuyền nhân tin có thể trở về xứ Việt. Thập niên 80, tôi ước ao trở về Huế. Về Huế! Chỉ có hai chữ này thôi mà sao âm vang cả hồn mình. Âm vang như tiếng ngâm của Võ Đình. Giữa đêm khuya, tiếng ngâm của người họa sĩ già trên 60 tuổi, cất cao, khỏe, mà buồn bã. «Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay», chữ «thiu» buồn tênh. «Hoa bắp lay», tức là cảnh vật còn, còn gọi, còn nhắc, mà sao anh không về?
Võ Đình không ngâm cho tôi. Ông ngâm cho kiếp lưu dân hiu quạnh. Đêm thâu, tiếng ngâm của Võ Đình vang xa như tiếng hò khuya của người Huế xưa, trên sông Hương. Chúng tôi nhớ Huế. Đọc Một món Tết thật mặn mà của Võ Đình mới biết ông nhớ Huế chừng nào. Ông lấy pâte d’anchois, một thứ cá muối dầu thật mặn của Tây đánh nhuyễn ra làm mắm, rồi luộc thật chín mì ống làm bún, rồi chan, rồi chấm, để có chút chất quê trong mình. Tết ở Tây, cuối tháng Giêng, lạnh cứng người. Võ Đình sinh ở Huế, nhớ Huế đã đành, nhưng tôi cũng nhớ Huế, dù chưa từng đến, mà vẫn nhớ hàng rầm thượng, bức mành vàng chanh, hàng dậu dâm bụt, với những hồn âm đi qua cầu Tràng Tiền về phía thành Nội, trong truyện Võ Đình.
Ra, tôi nhớ Huế của người khác.
Nhiều khi, tôi nhớ sự kinh dị của Huế. Các thước phim đen trắng chiếu cảnh khóc than của người Huế đi tìm xác, rồi đào xác thân nhân mang về hàng đống xương, đầu lâu, ba sườn… Mậu Thân kinh dị. May là Huế còn những trận mưa trên cây sầu đông của Nhã Ca, còn những mùa ngô cũ của Trần Dạ Từ. «Đuổi bắt trên đồi cao, trượt chân bàng hoàng mãi.»
Người Bắc di cư không có quê, vì chiến tranh, không thể về. Nên tôi si quê của người khác. Si quê của Phan Nhật Nam. Si quê của Túy Hồng. Si quê của Bình Nguyên Lộc. Si quê của Nguyễn Thị Hoàng. Tháng 5-1975, Vòng tay ôm của Nguyễn Thị Hoàng giúp quên nhà có tang. Tang vì bại trận.
Rồi tôi về Huế.
Gấu chỉ có mỗi một kỷ niệm về Huế. Đẹp làm sao, thê lương làm sao. Viết ra mới xấu hổ làm sao!
Viết ra, nhé? NQT
Người Bắc di cư không có quê, vì "không" có chiến tranh, không thể về!
*
Áp dụng câu sau đây - của một tay nhà văn Mexico, Juan Villoro, viết về bạn của ông ta, Roberto Bolano, nhà văn Chile, tác giả Những tay thám tử man rợ, The Savage Detectives – vào bài ký của TV, mới tuyệt làm sao:
From a great distance, he had constructed a country of memory, of spectral exactitude.
Từ một khoảng cách lớn, anh ta xây dựng lên một xứ sở của hồi nhớ, của sự chính xác ma quái.
TV: Nhà văn Bắc Kít
VD: Nhà văn Trung Kít
HPNT: Nhà văn Trung Kít, Vi Xít
Cái xứ sở của hồi nhớ, của sự chính xác ma quái: Huế
Bài ký của TV là một toan tính làm sống lại một Huế ma quái của một Mậu Thân đầy những thây người.
Thiếu HPNT làm sao được?
Không có ông ta, làm sao có Huế ma quái, và như thế, làm sao có bài ký ma quái, làm sao TV có dịp trục xuất linh hồn của anh?
*
Câu này, Bolano thường bị hỏi, cũng có thể áp dụng cho một nhà văn Bắc Kít di cư, như Mr. TV [Tin Văn & Trần Vũ]:
Ông coi ông là nhà văn Chile [Bolano sinh tại Santiago vào năm 1953), hay là nhà văn Tây Ban Nha [ông sống ở TBN hai thập niên sau cùng của đời mình, tới khi mất vào năm 2003], hay là nhà văn Mexico [ông sống ở Mexixo City chừng 10 năm theo cái kiểu đi đi về về]?
Và, một lần Bolano trả lời: Tôi là một tay Mỹ Châu La Tinh [Latin American]. Những lần khác, ngôn ngữ Tây Ban Nha là xứ sở của tôi.
Quả thế: Tiếng Mít là xứ sở của Mr TV!
Đúng như The Great Bolano, [nhà văn Gấu vĩ đại!] đã từng tuyên bố, trong dịp nhận giải thưởng Romulo Gallegos Prize, vào năm 1999:
“Có một người nào đó nói, xứ sở của nhà văn là ngôn ngữ của anh ta. Nghe thì thật là bất cần địa lý, nhưng tôi đồng ý với người này.”
Nhưng sau đó, nhà văn vĩ đại Bolano phán tiếp, rất ư là bảnh, và rất ư là ấn tượng, [và nhà đại phê bình có lẽ cũng nên ghé mắt đọc, để hiểu ra một kinh nghiệm viết văn, của một bậc thầy]:
that it's true that a writer's country isn't his language or isn't only his language. . .. There can be many countries, it occurs to me now, but only one passport, and obviously that passport is the quality of the writing. Which doesn't mean just to write well, because anybody can do that, but to write marvelously well, though not even that, because anybody can do that too. Then what is writing of quality? Well, what it's always been: to know how to thrust your head into the darkness, know how to leap into the void, and to understand that literature is basically a dangerous calling.
Đúng, xứ sở của Gấu không là tiếng Mít, không chỉ là tiếng Mít… Có thể có nhiều xứ sở, như chuyện xẩy ra cho Gấu bây giờ, nào là nước Bắc Kít, nước Nam Kít, xứ Lèo, xứ Thái, xứ Ca na điền, nhưng chỉ có một cái giấy thông hành. Và cái thông hành này, hiển nhiên, là cái gọi là phẩm chất của cái viết ra. Điều này không có nghĩa là viết bảnh, [bất cứ ai mà chẳng làm được chuyện này], nhưng mà là viết thật là bảnh, thật là tuyệt vời, [vưỡn, bất cứ ai mà chẳng làm được, ngay cả chuyện này]. Vậy thì phẩm chất của viết là cái chó gì?
Nó luôn luôn là cái này này:
Là đâm đầu vào cái lỗ đen được gọi là Cái Ác Bắc Kít, là lao vào trống không, và hiểu ra điều, văn chương là một thiên hướng thật nguy hiểm: Gọi tên Cái Ác Bắc Kít!
Hà, hà!
[Dịch láo mà chơi, nghe láo chơi
Dây dưa giàn đậu phún mưa rơi
Chuyện đời chán ngấy người lên được
Vô net, đọc TV, thấy cũng dzui!  (1)

(1)
Đậu bằng qua giá vũ như ti
Cái duyên gặp gỡ giữa Bạn [DB] và Gấu, là ở câu trên
*


Tình cờ đọc lại số báo cũ, The Paris Review, Winter, 1995,  thấy bài viết về Samuel Beckett: Cũng một cao thủ về cờ [chess].
Bài ngắn, nhưng tuyệt, tuyệt. Để Gấu scan rồi dịch, hầu quí vị. Một bài viết của một người bạn của ông, theo kiểu hồi tưởng. Có những câu sau, chẳng bảnh sao?:
Rosset:
....Beckett là một vì quân tử, a gentle man. Tôi nghĩ, từ này được người đời phịa ra, ấy là bởi vì có ông. [I think they may have invented the word for him].... Ông là một người lắng nghe, a listener. Ông ta lắng nghe đến độ bạn cứ nghĩ mình là con người độc nhất trên cõi đời...
[Note: Gửi bạn mới quen, qua dòng thơ của VND: Đậu bằng qua giá vũ như ti. NQT]
*
V/v HPNT trong cái ký của Mr. TV
Nếu có một người nào chán HPNT, thì phải là… Gấu. Trong bài viết  Mùa Xuân nói chuyện Mậu Thân, Gấu đã 'ngầm' đưa banh cho ông, để nhân đó, ‘thắp một nén nhang tạ lỗi’ với Huế Mậu Thân.
Quả như thế, nhưng, thay vì thắp, thì ông tắt: Ông lên tiếng trên đài của em TK, phân bua, tui đâu có mặt ở Huế thời gian đó, mà nói tui giết người? (1)
Mr. TV khi chấp nhận Phan Nhật Nam thì khó có thể bắt cá hai tay, chấp nhận luôn cả HPNT.
Thành thử những dòng tuyệt đẹp về HPNT ở trong ký TV, là chỉ để làm bật ra cái mảng tối của nó. [PXA đã từng được một em ký giả Mẽo coi là vị thần hai mặt Janus. HPNT thì cũng rứa, nhưng biến cố Mậu Thân làm ông bị cháy, đành phải lên rừng].
Đây là kỹ thuật “tương phản”, hay nói nôm na, kiểu Miền Nam, “dzậy mà không phải dzậy”.
Ngay chính TV cũng để lộ ra kỹ thuật viết ‘đá giò lái’ của ông, thí dụ như những câu sau đây:
Tôi không biết Hoàng Phủ ngày xưa.
Khó hình dung một Mậu Thân của thi sĩ
Ông không giống chút nào những ngày oan nghiệt.

Câu này, thật khủng khiếp:
Tôi biết, chính văn chương giúp ông tìm sự bình thản.

Cách mô tả như vầy, làm Gấu nhớ đến một tay Đông B, và cái blog của ông ta, toàn nói chuyện hoa, chuyện thơ hai ku, nhưng bất thình lình, ông ta vung kiếm giấu ở trong bụng ra, để làm thịt Ky tô giáo, Phật tử.
Nó còn làm nhớ đến mấy tay tổ sư Nazi, tai nghe nhạc cổ điển, tay đẩy người vô Lò Thiêu.
(1)
Có bao giờ me xừ Tường tự hỏi, có bao nhiêu người đã chết, chỉ vì nội cái tên của ông? Có bao nhiêu đứa con trai, con gái lên rừng, chỉ vì đã có lần trong đời được vinh dự làm học trò của ông?
Thử hỏi, nếu cái tên của ông không là gì, thì làm gì có một nhân vật tên Tường trong Mùa Biển Động, và "bất tử" cùng với Mùa Biển Động?
[Nhưng cũng có thể nói ngược lại. Nhờ Tường, nhờ Ngữ, mà MBD bất tử]
Có bao giờ ông đẩy "công án" đến tận cùng, giả như không có Tường này, thì liệu vẫn xẩy ra cú Huế Mậu Thân?
"Công án Tường" có vẻ giông giống một ngụ ngôn của Kafka, nhưng ngược hẳn lại. Một thuận. Một đảo:
Có thể xây Babel, nếu không phải leo lên Babel! (2)
(2)
The Tower of Babel
If it had been possible to build the tower of Babel without ascending it, the work would have been permitted
Kafka
*

Monday, November 2, 2009 2:
Thưa bác Trụ
Bác rối rít ca tụng bài "Lưng trần" của Trần Vũ vậy là hớ rồi.
Trên talawas có người vừa nhận xét là Trần Vũ viết bài này để đi một đường hóa đồng giữa Hoàng Phủ Ngọc Tường và Phan Nhật Nam. Tức là huề cả làng, anh Cộng sản và anh chống Cộng cũng giống nhau, phe đồ tể và phe nạn nhân cũng như nhau.
Bác Trụ đọc lớt phớt theo cảm tính, thích câu này câu nọ, nhưng không nhìn ra ý đồ của tác giả nên cứ gân cổ lên mà ca là tuyệt tác.
Hôm nay bác Trụ cũng có thêm thắt đôi lời biện bạch về vụ Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhưng cái kiểu rốí rít ca tụng của bác mấy hôm trước thì đã quá trớn, bây giờ có loay hoay gỡ gạc thì cũng là chắp vá thôi.
Thế mới biết cái đọc của bác Trụ không sâu, khá là nông nổi.
Đề nghị bác Trụ rút kinh nghiệm để bớt bồng bột về sau.
Phúc đáp:
Cám ơn đã đọc bài viết của tôi.
Tuy nhiên, cách đọc của độc giả talawas là của độc giả talawas, của tôi, là của tôi.
Phải có nhiều cách đọc khác nhau, đâu chỉ có một cách đọc.
Giả như có sự hoà đồng giữa hai ông nhà văn này, và đó là chủ ý của tác giả bài viết, thì cũng tốt quá.
Bạn tin là một nhà văn như HPNT có thể…  sám hối ư?
Bởi vì phải có sám hối mới có hoà đồng.
Chính tôi đã thử một lần rồi, với ông ta, đâu đợi đến TV, và bài ký mới này, khi viết bài Mùa Xuân nói chuyện Mậu Thân, và thua.
Như vậy, làm sao hòa đồng?
Không lẽ ý kiến của độc giả talawas là “chân lý” trong vụ này?

Viết ký, là trục xuất linh hồn. Nhưng tôi chỉ dám trục xuất dè sẻn. Giống vén áo, phơi một khoảng lưng và viết trên da lưng này. Lưng trần là vậy. TV

Bài ký của TV, thực sự, theo tôi, là viết về cái lưng trần của TV, và toan tính sử dụng văn chương như là một nghi lễ để khu trục linh hồn.
Cũng một thứ nghi lễ trừ tà của thế kỷ mà nhiều nhà văn nhà thơ đã sử dụng. Watt, chẳng hạn.
Bác Trụ đọc lớt phớt theo cảm tính, thích câu này câu nọ, nhưng không nhìn ra ý đồ của tác giả nên cứ gân cổ lên mà ca là tuyệt tác.

Đúng như thế. Đây là cách đọc của tôi, trong gần như tất cả các bài viết, tác giả, trừ tác giả ruột.
Tôi ít để ý đến chủ ý, ý đồ của tác giả. Trừ tác giả ruột!
Thường là đọc lớt phớt, thấy một ý nào bắt mắt, là viết.
Bài viết của tôi, nhan đề "Viết như là không viết", là cũng muốn, nhân cách viết đầy "ấn tượng" của TV, viết về một lối viết "khu trục ấn tượng", và nhân đó, viết về lối "viết trắng", lối viết "không độ" của Camus.
Kính
NQT
*
Note:
Trong thư của độc giả Tin Văn, dùng chữ hoá đồng, không phải hoà đồng. Gấu già cả, mắt kém, đọc là hòa đồng, hiểu sái ý của người viết:
Sorry abt that. NQT.
HÓA ĐỒNG thì khác với HÒA ĐỒNG
Monday, November 2, 2009 5:07 AM
Thưa bác Trụ,
Bác lại đọc thư của tôi một cách bồng bột, vội vã nữa rồi.
HÓA ĐỒNG mà bác đọc thành HÒA ĐỒNG.
Theo phân tách của ông Vương Thế Lan thì Trần Vũ có ý đồ HÓA ĐỒNG Hoàng Phủ Ngọc Tường và Phan Nhật Nam.
HÓA ĐỒNG ở đây cũng giống như HÓA ĐỒNG MẪU SỐ trong toán học, tức là có ý đồ xem anh Việt Cộng và anh chống Cộng cũng giống như nhau, chung một mẫu số.
Chứ làm gì có sự hòa đồng?
Bác Trụ đọc vội vã rồi nói: "Giả như có sự hoà đồng giữa hai ông nhà văn này, và đó là chủ ý của tác giả bài viết, thì cũng tốt quá."
Hai ông này chả có sự hòa đồng nào cả. Chỉ có Trần Vũ muốn dùng phương pháp HÓA ĐỒNG MẪU SỐ để biến ông Hoàng Phủ Ngọc Tường thành ông Phan Nhật Nam.
Làm vậy để cho ông Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành đáng thương y hệt như một sĩ quan VNCH bị giam cầm hành hạ trong trại cải tạo sau 1975.
Thật đúng là một thứ kỹ xảo mượn văn chương để đánh tráo chính trị.
Nếu bác Trụ đọc mà không thấy cái ý đồ đó thì thê thảm thật.


Tôi chưa đọc bài của Vương Thế Lan, thành thử không thấy cái ý đồ, kỹ xảo đó, điều này chứng tỏ cách đọc của tôi không liên quan gì tới cách đọc của độc giả talawas.
Mấy ý đồ đó, thấy thì mới thấy thê thảm, thật.
Không thấy, vậy mà may!
Như tôi đã viết, cách đọc của độc giả quyết địmh số phần của diễn đàn, là vậy.
Làm vậy để cho ông Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành đáng thương y hệt như một sĩ quan VNCH bị giam cầm hành hạ trong trại cải tạo sau 1975.

Cho đến bây giờ, bạn vẫn nghĩ là họ... đáng thương ư?
Giá mà HPNT có một tí "trở thành đáng thương" này, thì chẳng cần hóa đồng, đã có hòa đồng từ khuya rồi.
Cho phép tôi chấm dứt phúc đáp thư của bạn, vì sợ TV biến thành Chợ Cá mất! NQT
Làm vậy để cho ông Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành đáng thương y hệt như một sĩ quan VNCH bị giam cầm hành hạ trong trại cải tạo sau 1975.

Cho đến bây giờ, bạn vẫn nghĩ là họ... đáng thương ư?
Giá mà HPNT có một tí "trở thành đáng thương" này, thì chẳng cần hóa đồng, đã có hòa đồng từ khuya rồi.
Cho phép tôi chấm dứt phúc đáp thư của bạn, vì sợ TV biến thành Chợ Cá mất! NQT
Bài viết “Viết như không viết” như trong trí tưởng tượng của Gấu lờ mờ nhận ra, là một kết hợp một số bài viết, mà Gấu hiện đang đọc cùng một lúc.
Anita Desai đọc A Tranquil Star: Unpublished Stories, [Ngôi sao trầm lặng: Những chuyện chưa xb], của Primo Levi, dịch từ tiếng Ý.
NYRB, July 19, 2007

Ký của Trần Vũ mà cách viết của anh, ai thì cũng biết, rất ấn tượng, rất cường điệu.
The Great Bolano, Bolano vĩ đại, trên NYRB, July 19, 2007
Và ở cái nền của bài viết, là tác phẩm “Không độ của cách viết” của Roland Barthes.
Ý đồ của tôi, là, liệu đã đến lúc tháo gỡ cho cõi văn Mít mọi mắc mớ chính trị, ý thức hệ, ý đồ, bằng cách “khu trục” mọi rác rưởi, và đẩy nó về thời đại ‘không độ’, như cách đọc Camus, của Barthes?
Huế
Đêm trườn dần vào sông Hương
tiếng hò vỡ dưới gầm Tràng Tiền
Khúc Nam Ai những cung phi goá bụa
chèo thuyền vớt xác mình trên sông
Nhất dạ quân vương đất thần kinh
người đi đi, làm thơ cho Huế tím 
Tự phá vỡ đối xứng
bằng nón nghiêng
quang gánh lệch
mắt nhìn ngang
Huế như nàng tiên câm
khóc thầm không nói. 
Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽ
lại sợ chạm vào nơi nhạy cảm trên cơ thể Việt Nam.
Phan Huyền Thư
1997
VHNT
*
Bọ Huế



Lưng trần (Ký)

Friday, 05 September 2014 10:04
Tác Giả
Trần Vũ
Thập niên 80 âm u giọng hát Khánh Ly «Ai trở về xứ Việt, nhắn giùm tôi người ấy ở trong tù…», không mấy thuyền nhân tin có thể trở về xứ Việt. Thập niên 80, tôi ước ao trở về Huế. Về Huế! Chỉ có hai chữ này thôi mà sao âm vang cả hồn mình. Âm vang như tiếng ngâm của Võ Đình. Giữa đêm khuya, tiếng ngâm của người họa sĩ già trên 60 tuổi, cất cao, khỏe, mà buồn bã. «Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay», chữ «thiu» buồn tênh. «Hoa bắp lay», tức là cảnh vật còn, còn gọi, còn nhắc, mà sao anh không về?

Võ Đình không ngâm cho tôi. Ông ngâm cho kiếp lưu dân hiu quạnh. Đêm thâu, tiếng ngâm của Võ Đình vang xa như tiếng hò khuya của người Huế xưa, trên sông Hương. Chúng tôi nhớ Huế. Đọc Một món Tết thật mặn mà của Võ Đình mới biết ông nhớ Huế chừng nào. Ông lấy pâte d’anchois, một thứ cá muối dầu thật mặn của Tây đánh nhuyễn ra làm mắm, rồi luộc thật chín mì ống làm bún, rồi chan, rồi chấm, để có chút chất quê trong mình. Tết ở Tây, cuối Tháng Giêng, lạnh cứng người. Võ Đình sinh ở Huế, nhớ Huế đã đành, nhưng tôi cũng nhớ Huế, dù chưa từng đến, mà vẫn nhớ hàng rầm thượng, bức mành vàng chanh, hàng giậu dâm bụt, với những hồn âm đi qua cầu Tràng Tiền về phía thành Nội, trong truyện Võ Đình.

Ra, tôi nhớ Huế của người khác.

Nhiều khi, tôi nhớ sự kinh dị của Huế. Các thước phim đen trắng chiếu cảnh khóc than của người Huế đi tìm xác, rồi đào xác thân nhân mang về hàng đống xương, đầu lâu, ba sườn… Mậu Thân kinh dị. May là Huế còn những trận mưa trên cây sầu đông của Nhã Ca, còn những mùa ngô cũ của Trần Dạ Từ. «Đuổi bắt trên đồi cao, trượt chân bàng hoàng mãi.»

alt

Cảnh di tản trên QL 1 năm 1975

Người Bắc di cư không có quê, vì chiến tranh, không thể về. Nên tôi si quê của người khác. Si quê của Phan Nhật Nam. Si quê của Túy Hồng. Si quê của Bình Nguyên Lộc. Si quê của Nguyễn Thị Hoàng. Tháng 5-1975, Vòng tay ôm của Nguyễn Thị Hoàng giúp quên nhà có tang. Tang vì bại trận.

Rồi tôi về Huế.

Đầu thập niên 90, Phú Bài ngoài lớp xi-măng, không có gì khác. Chỉ có khói, nắng và đất đá. Nắng lồng lên giữa cát bụi phi trường. Tôi ngắm Huế. Ngắm giấc mơ trở về của mình. Và Huế bật lên xanh hực. Màu lục đậm. Sức sống âm ỉ dưới lòng đất. Vì mồ mả chập chùng. Tôi chưa chứng kiến thành phố nào nhiều mồ mả trong phố, giữa phố, trong vườn, giữa vườn, trong sân, ngoài sân, nhiều như ở Huế. Bên Ai Cập cũng đầy mả, nhưng là mả xưa, mả sang, mả di tích, mả danh thắng. Ở Huế, mả tươi leo lét tim dầu, đây đó chân nhang, chập chờn như ma trơi. Khi đêm xuống, tôi khám phá, người chết chưa chết ở Huế. Đêm xuống, người chết mở mắt.

Tôi ra khỏi Phú Bài. Về nhà khách Lê Lợi, gần ga xe hỏa. Ngồi trên xe, tôi váng vất, vì biết, đang sống ước mơ của mình. Bao nhiêu trang sách cũ, chỉ một chữ Huế. Bao nhiêu trang viết tay của những người bạn muốn về Huế. Vậy mà mình về đến Huế. Đất xanh tàu lá. Đất thấm bất chợt cơn mưa không đủ dội tắt nắng, nhưng đủ làm hiện lên cầu vồng và xông mùi đất. Mùi oi, hăng, nồng của đất mẹ. Da thịt mẹ.

Hoàng P. không giống nhân vật trong Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác. Hoàng P. ở Phú Bài điềm đạm, hòa nhã. Hoàng P. ở Phủ Cam thân mật và tự nhiên. Tôi nhìn ông, tự nhiên tôi muốn quên hết. Bất hạnh và khổ đau. Hãy về đất mẹ. Gặp. Đừng thắc mắc. Và tôi gặp Hoàng P.. Ông không giống chút nào những ngày oan nghiệt. Ông là một Hoàng P. khác. Hoàng P. của tạp chí Cửa Việt, cố gắng thoát kiểm duyệt, cố gắng lách một cánh cửa, sau khi Sông Hương đình bản.

alt

Thủy Quân Lục Chiến VNCH chuẩn bị tái chiếm cổ thành Quảng Trị mùa Hè đỏ lửa 72

Hoàng P. tôi gặp, là một người viết tùy bút.

Nhiều khi nhớ Huế, tôi đã nhớ Huế của Hoàng P.. Mà Huế của Hoàng P. đẹp vô cùng: Huế phất ống tay áo, làm thành khúc sông Hương trôi qua chùa Thiên Mụ, như cánh tay áo của thiếu nữ thanh tân đánh khúc quành về phía Tuần. Huế tráng ngọc. Lãng đãng sự dịu dàng. Huế mang sắc tím ẩn hiện của lớp vải điều lục tràm lồng lên một màu đỏ kín đáo, của các cô dâu đem phơi áo cưới sau tiết giáng sương… Những trang viết diễm ảo. Đẹp đến nhẹ hẫng. Những trang tùy bút về núi Bạch Mã cũng nhuyễn thể lạ lùng. Đọc mà giống uống văn, rồi say. 

Tôi không biết Hoàng P. ngày xưa. Nhưng tôi biết Hoàng P. ngày đi lăng. Một Hoàng P. khác, còn biết cảm nỗi cô độc của chú rồng con phải uốn thân trên sân, làm vật trang trí cho nhà Chúa, trên bậc tam cấp, trên mái điện vàng. Khó hình dung một Mậu Thân của thi sĩ. Tùy bút của ông không nhiều quá khứ cũ. Tùy bút thăm vườn bà Lan Hữu, là một tuyệt bích. Vườn An Hiên đầy cây trái mà mỗi sắc hoa, mang vết bút tỉ mỉ. Hoàng P. đạt đến sự an nhiên tự tại của tĩnh vật trong tùy bút Hoa trái quanh tôi này. Tôi biết, chính văn chương giúp ông tìm sự bình thản.

Nguyễn Quang Lập đưa tôi ra cổ thành. Xe máy qua Phong Điền, Hải Lăng, Thạch Hãn, bao nhiêu trang sách cũ hiện lên. Bên kia có thể là dẫy đồi nơi tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến của Cao Xuân Huy đánh những trận cuối cùng. Dưới kia là chi khu Mai Lĩnh nơi tiểu đoàn 7 Nhảy dù của Lô lọ rượu cầm cự. Trên kia là chỗ Lữ đoàn Dù «chạm» Quảng Trị. Tôi ý thức rất rõ, đang đi trên Đại lộ Kinh hoàng. Lập không biết, không chú ý, hay nghĩ chuyện khác. Hai ven quốc lộ, nghĩa trang liệt sĩ san sát. Quốc lộ thưa dân, những đứa bé tròng mắt trong veo không ký ức và những cụ già mắt đục mờ ký ức. Tôi ở giữa. Giữa đứa bé và ông lão. Giữa dải cát đang đổi màu trắng, xám, thâm. Ký ức rồi sẽ thâm.

alt

Dân chúng chạy loạn qua cầu Trường Tiền Huế "Tết Mậu Thân"

Cổ thành ban trưa đìu hiu. Cũng chẳng còn thành. Chỉ còn một khối đá duy nhất, bự bằng nửa căn nhà. Mà nhà cửa ở Quảng Trị thưa vắng. Năm 94, tôi đếm được vài đường ngang, thành phố chạy dọc theo quốc lộ 1 thẳng tắp. Có căn phố còn găm đầy đạn, xác con chuột chết ruồi bu kín và xe nước mía duy nhất thằng bé đang quay tay. Giấc trưa, Lập ngủ trưa. Tôi mượn xe Lập ra nhà thờ La Vang. Tôi muốn đến đây, năm 72 xem tivi, tôi trông thấy lần đầu khu La Vang đổ nát. 22 năm sau, vẫn vậy, hoang tàn đến lạnh người. Cả khu nhà thờ chỉ còn mỗi tượng Đức Mẹ lỗ chỗ đạn. Gạch, ngói, mái, tường tan hoang. Có ra đến La Vang mới thấy khốc liệt của chiến tranh, tiêu hủy, phá hủy, tàn phá không chừa một thứ gì. Những người lính Cộng hòa chết ở đây. Chết cho tôi lành lặn đi học, cho gia đình tôi bình an buôn bán. Nhà thờ La Vang sập mái hiu hắt, không bóng người, chỉ vài chân nhang còn cháy. Giống ma thắp. Trông mà bùi ngùi. Khu La Vang lạnh tanh, gió rì rào, từng chập. Tôi khấn mấy người lính, rồi về.

Về Huế, tôi đi tìm những gì mình nhớ.

Trong Tháng Giêng đưa đám, Nhã Ca tả một Huế lạnh băng. Nước sông dâng lên lụt lội, mưa dầm dề mùa Đông. Hàng đoàn người lội nước đi tìm xác. Nhưng xác không ở chỗ người sống tìm mà trồi ra từ những hốc vườn bị nước lũ kéo ra. Người sống chết trong chỗ núp, bị giết khi đang núp, còn người chết bị nước đẩy ra khỏi chỗ núp. Chết bó gối mà không ai hay, đến khi trôi ra vườn mới sình thúi. Tôi sợ hãi năm lên đệ thất, đọc mà giật thót người vì xác chết đột ngột chui ra từ trong một xó xỉnh của căn nhà vườn. Đọc mà tay chân lạnh ngắt. Người Huế tản cư sau Mậu Thân trở về, bước vô nhà, xác chết cùng khắp, hoặc nhiều khi phải đi tìm, phải kiếm vì biết chết, mà chưa thấy xác. Đứng trước các am miễu vô số ở Huế, tôi biết người ta đã chết ở đây, nhiều lắm.

Ra đến chân cầu Tràng Tiền, tôi mường tượng ra cảnh Cao Xuân Huy đang ngồi tắm bia, như anh viết trong Tháng Ba gãy súng, khi tiểu đoàn anh từ Mỹ Chánh rút về. Về đến chân cầu vớ được két bia, khui tức khắc, rồi tắm, tắm bia, cho đã những ngày cơ cực. Tôi chần chừ vì muốn sống với cảnh tắm bia lâu thêm chút nữa. Sống với Cao Xuân Huy mà mình quen thân. Tôi mường tượng ra những người lính, họ trẻ trung yêu đời, xem chuyện sống chết bình thường. Số đông bị bắt, rồi lầm than, số khác vượt biên… chỉ còn lại bãi đất trống.

Một vai cầu Tràng Tiền bị giật sập đêm mùng 9 Tết Mậu Thân. Tôi nhớ hình ảnh nhịp cầu chìm dưới sông, vai còn vồng trên mặt nước. Tôi có ý nghĩ lạ là tôi thấy những hình ảnh mà người Huế không còn thấy. Bước chân lên cầu sắt, tôi chờ đợi những hồn âm của Võ Đình, những hồn âm đã «va», đã «chạm» vào vai Võ Đình sau Mậu Thân khi ông về Huế. Trong truyện Chiếc vòng, Võ Đình kể xảy ra thật, ông không tưởng tượng mà cảm nhận rõ rệt giữa ban ngày, dưới cơn mưa mỏng, những hồn âm vừa chết đi ngược chiều, «chạm» đến giật người. Khi kể lại ở Ba Lê, giọng Võ Đình đầy tâm linh. Khi băng qua cầu, không ai va chạm vào mình tôi. Chỉ có tôi qua hết cầu Tràng Tiền như ma. Không phải người Huế là ma, mà là tôi, kẻ không thực sự hiện diện ở Huế, kẻ ở xa về đôi ngày rồi đi, chính tôi mới là chiếc bóng thoáng qua cầu Tràng Tiền rồi biến mất.

Tôi ra cửa Thượng Tứ, tìm kỷ niệm khác của Võ Đình. Vũng nước mưa mà năm 17 tuổi, Võ Đình trông thấy trước cửa Thượng Tứ, ven đường. Vũng nước mưa phản chiếu ánh mắt ông, trong buổi sáng cuối cùng trước khi ông rời Huế. Đó là một buổi sáng tinh sương của năm 1950. Cậu trai họ Võ sẽ trôi băng băng vào đời. Đến khi Võ Đình trở về Huế, ông ra lại cửa Thượng Tứ bấy giờ vừa trúng pháo xập một phần, trông như gã khổng lồ cụt đầu. Võ Đình đi qua chiếc cầu nhỏ, rồi ông bắt gặp lại vũng nước mưa năm xưa, rõ ràng là nó, chính nó, vũng nước mưa năm nào, và nó cũng nhận ra ông. Cả hai nhìn nhau rưng rưng thân thương. Nó chưa quên ông. Võ Đình tả giống như ông đang khóc với nó. Tôi cũng «trở về» sau thật nhiều năm xa cách. Tôi cũng 17 tuổi ngày ra đi.

alt

Bìa sách "Chuyến xe lửa đến đúng giờ"

Tôi tìm ra vũng nước mưa không khó khăn. Tôi nhận ra vũng nước mưa ấy. Vũng nước mưa của Võ Đình, không thể lẫn với vũng nước mưa nào khác. Nó cũng nhận ra tôi, chuyên nhớ Huế của người khác. Nó phản chiếu ánh mắt tôi còn quyến luyến quê. Vũng nước mưa lớn hơn xưa, lớn hơn trong truyện Võ Đình nhiều lắm, nó lan ra một khoảng lớn, phản chiếu phân nửa cửa Thượng Tứ đã xây lại, đắp lại. Vũng nước mưa đã lớn lên, như tôi. Tôi đứng ngắm nó cho đến khi chạng vạng và nó thu mình lại dưới sắc ám.

Tôi không còn nhớ rõ là buổi sáng nào nữa, những ngày ở Huế đầy mộng mị, nửa thiêng liêng, nửa phù du, vừa quá khứ, vừa thực tại, với ý thức tất cả sắp biến mất. Chỉ cần tôi thở, thời gian sẽ thu ngắn lại và tôi sẽ phải rời khỏi Huế để sẽ phải sống lây lất, vật vạ bằng ký ức của người khác. Buổi sáng ở lăng Khải Định, bừng lên sắc xanh của Huế mà đứng từ trên lăng nhìn xuống, thấy núi đồi trùng điệp với tượng Phật Bà Quan Âm. Trông thấy Ngụy Ngữ, tôi nhận ra tức khắc: Ngữ của Mùa biển động. Ngụy Ngữ cao, gầy, xương, trầm mặc và suy tư. Đúng Ngữ của Mùa biển động. Không thể sai. Ngữ, tác giả Con thú tật nguyền và Vòng hoa cho lãnh tụ. Ngữ của gia đình ông Văn mà Diễm yêu da diết, yêu si mê, trong câm lặng mỗi khi mang thau nước cho Ngữ rửa mặt trong xưởng vẽ của Ngô gần cầu Gia Hội. Diễm mà ngấn cổ trong vắt giọt mồ hôi ẩm của Huế ban trưa, yêu dữ dội, mà dứt cũng quyết liệt. Đúng Ngữ của Diễm. Về sau, khi sang Cali tôi hỏi có phải Ngụy Ngữ là Ngữ trong Mùa biển động? Nguyễn Mộng Giác không phủ nhận:
Một nửa của Ngụy Ngữ cộng một nửa của ông. Khi ấy, ngắm Nguyễn Mộng Giác, tôi mới nhận ra ông cũng cao, và chắc phải gầy ngày xưa, tất nhiên rất «thao thức».

Chúng tôi đi lăng. Lăng Gia Long đẹp nhất trong các lăng. Đẹp ở nét tịch liêu, cô quạnh. Ở lớp sương dâng lên từ sông Hương phả vào các pho tượng. Con ngựa thui chột mắt mà trong Dựa lưng nỗi chết, Phan Nhật Nam kể chuyện người lính trẻ lấy súng M-16 bắn vỏ chai bia đặt trên đầu con ngựa. Viên đạn trệch, làm chột mắt. Tôi ngồi ở lăng Gia Long, nhớ Phan Nhật Nam vô cùng. Tôi theo anh bao ngày, từ khi còn học trường Lasan, qua đến sau «giải phóng», đọc chui những trang sách, những thước đất, những thước lộ anh và bạn bè anh đi qua. 35 ký lô quân trang, quân dụng, mùng mền, nón sắt, botte de saut, 6 trái lựu đạn, súng phóng hỏa tiễn M-72, và cả tâm tư của tuổi trẻ trong Những ngày dài trên quê hương, phải lội xuống sông, xuống ruộng, cố giữ đừng cho chìm, đừng ướt súng để có thể chết lát nữa trong tư thế người lính, lính Cộng hòa, để tôi có thể tiếp tục tuổi hoa niên trong yên ấm. Tôi nhớ Đại úy Hổ, Đại úy Thừa mà Phan Nhật Nam kể đã cùng ngồi uống bia không đá ven sông Hương, trên sườn đồi nhìn xuống lòng sông lam đục mờ sương khói. Hai ông Thừa, Hổ «nghỉ phép» vĩnh viễn, chết không kịp trăn trối. Phan Nhật Nam cho tôi rất nhiều, ý thức quốc gia và cả sự kiêu hãnh Cộng hòa, không có anh, tôi sẽ thất lạc.

Tôi ngồi cạnh Hoàng P.. Ông kể chuyện: Cả hai lần làm lễ tưởng niệm 30 Tháng 4 ở Quảng Trị, lập đàn tế liệt sĩ, cả hai lần đều không thành vì gió lớn trổi lên, thổi sập hết cả cờ quạt, cả hình chủ tịch… Hiện tượng này ngày xưa đã có, vì vậy thơ xưa mới có câu «Hồn tử sĩ, gió ù ù thổi» … tức là vong những người lính bên kia về, và họ không bằng lòng. Cả hai lần mình đều tận mắt chứng kiến. Hoàng P. kể. Đêm trong ngôi nhà ở Phủ Cam, chúng tôi cùng ngậm ngùi. Tôi muốn nói với ông thật nhiều nhưng rồi lại thôi. Mà không thể. Chúng tôi quá khác nhau. Khác đến mức, ông kể «vong những người lính bên kia» mà lỗ tai tôi nghe thành «vong lính mình không bằng lòng.»

Khác. Giống như ban sáng, khi Hoàng P. trỏ cửa vòm hông của cổng vào Hoàng thành, lối cho voi vào, ông kể: «Tết Mậu Thân, em mình và biệt động nội thành trú bom dưới vòm nì…» Tôi im lặng, vì không thể góp chuyện, vì đang nghĩ đến tiểu đoàn 9 Nhảy dù của Phan Nhật Nam bị phục kích tan nát ở cửa Thượng Tứ mà vẫn phá được chốt. Vì đang nghĩ đến những người lính của Sư đoàn 1 Bộ binh đang cố gắng chống trả ở Mang Cá, ở sân bay Tây Lộc, ở cửa An Hòa. Nghĩ đến những người lính quân cụ của đại đội 811 Quân Cụ bị bắn chết trong trại Lê Lai và những người lính địa phương quân chết ở cầu Bạch Hổ, vì cố giữ cầu… Sao chúng tôi khác nhau đến vậy. Ông không biết là tôi nhớ Huế bằng ký ức của người khác. Trong đó có ông. Nhưng tôi không nhớ Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu mà nhớ Ai đã đặt tên cho dòng sông.

alt

Võ Đình - NGUỒN GIO O.COM

Chắc ông không biết tôi khác. Chúng tôi vẫn uống bia, vẫn uống đế Kim Long, đế Làng Truồi. Ánh mắt ông dành cho tôi nhiều cảm mến. Ngày ông bán thân bất toại, biết tôi về Huế, ông vui. Nhìn bàn tay ông quắp lại chưa cầm được bút, tôi biết ông buồn. Một người viết tùy bút, mà không viết được nữa, lấy gì trút hồn? Khi chưa liệt, ông hay kể cho tôi nghe về di tích lịch sử Huế. Còn tôi kể cho ông nghe chuyện Tây. Nhưng giữa những câu chuyện, giữa hai cái Huế bây giờ và Pháp bây giờ, là một khoảng trống. Trống rỗng. Không tiếng động, không tâm sự. Chúng tôi không nói về nội chiến Nam-Bắc. Tôi chưa kịp tham chiến, ông đã tham dự. Một cách lý trí, tôi từ chối bút ký Chế ngự cát. Một cách bản năng, tôi thích nhìn ông khề khà, kể gặp Jane Fonda xinh xắn. Nhưng mỗi khi tôi ngồi cạnh ông, lý trí và tình cảm đánh nhau liên tục, lần nào tình cảm cũng thắng. Chiến thắng này là của ông.

«Lối đi nhỏ lẫn trong đám hàng rào lá chè xanh dày kín. Dọc trên đường về sân bay Tây Lộc, hào bên phải bay ngát hương sen. Mùa hè đẹp nhất xứ Huế, mùa của đêm trăng nhỏ giọt qua cành lá... Qua một quán nước, ánh nến vàng mệt, cô gái bán hàng rạng rỡ giữa một đám lính trẻ, Quán Lưu Khách…» Khi Hoàng P. đến nhà khách, đón tôi ra Phú Bài, những dòng chữ xưa của Phan Nhật Nam như còn chảy qua mình. Chúng tôi chạy dọc sông Hương. Tôi đưa mắt tìm Quán Lưu Khách, đưa mắt tìm những hạt cườm đỏ chấm đen mà Phan Nhật Nam cúi nhặt ngày xưa. Xe qua trường Quốc Học gạch son, tôi ngắm bầy chim phụng chạm nổi lộng lẫy trên bức bình phong to vẽ hoa văn sát bờ sông. Tôi nhớ màu hỏa hoàng rực rỡ trong truyện ngắn G. của Võ Đình. Có lẽ là màu chim phụng Huế. Tôi ngắm các nữ sinh Huế, nhớ Tương Giang, Hoa Trang, Dung Nghi của Nhã Ca, những thiếu nữ yêu rất vội, và ngắm cầu Tràng Tiền lần cuối. Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến của Cao Xuân Huy không còn ở đó, chắc đã ra Cửa Việt hay rút về Thuận An. Tôi nhớ mái tóc bạc của Trần Vàng Sao, nhớ cây đa trắng trong vườn nhà ông, thỏm sâu trong thôn Vỹ Dạ. Tôi bắt đầu có ký ức.

Sân bay Phú Bài cam tuyền. Hoàng P. vẫy tay. Cuộc chia tay nào cũng chấm dứt. Tôi chỉ kịp nói với ông: Sông Hương giống sông Nil ở Ai Cập, cùng nhịp chảy chậm, một bên lăng tẩm đền đài và một bên khách sạn, cùng ru giấc ngủ những vì vua… Tôi chỉ kịp nói ngần ấy, và chia tay.

Những ngày ở Huế, tôi đem theo quyển tiểu thuyết Chuyến xe lửa đến đúng giờ của Heinrich Böll. Buổi tối ở nhà khách Lê Lợi, tôi đọc sách tìm giấc ngủ, theo thói quen. Nhưng càng đọc, càng cảm thấy kỳ lạ, giống Heinrich Böll viết cho Phan Nhật Nam và Hoàng P.. Nhân vật chính, Andreas, binh sĩ quân đội Đức, về phép nhưng rồi hết phép phải đón chuyến xe lửa ra đơn vị trên mặt trận Nga. Andreas tìm đủ cách để trốn, nhưng đến thành phố nào chuyến xe lửa ấy cũng chờ sẵn trên sân ga. Nhảy tàu, bỏ ngũ, thậm chí lấy một cô gái vừa quen biết, hòng xin thêm ít phép, tìm cách hoãn, Andreas vẫn bị bắt lại, vẫn bị dẫn ra sân ga và trông thấy chuyến xe lửa túc trực. Anh hiểu ra có hẹn với Thần Chiến tranh. Không thể chạy, không thể trốn. Tuổi trẻ của nước Đức không thể thoát chiến tranh vì chiến tranh là định mệnh khốc liệt mà dân tộc này phải gánh, vì đã đi tìm. Tôi chưa kịp kể cho Hoàng P. về Chuyến xe lửa đến đúng giờ, chưa kịp nói với ông: Hoàng P. và Phan Nhật Nam là Andreas.

Lưng trần là khoảng thân đẹp nhất của phụ nữ. Còn lưng đàn ông? Lưng đàn ông thường mang vết chém của người khác. Đôi khi do tự mình chém lấy. Lưng đàn ông Huế mang đầy thương tích của nội chiến. Còn lưng tôi? Viết ký, là trục xuất linh hồn. Nhưng tôi chỉ dám trục xuất dè sẻn. Giống vén áo, phơi một khoảng lưng và viết trên da lưng này. Lưng trần là vậy.

Võ Đình chết ngày 31 tháng 5, ông đã về Huế.




Comments

Popular posts from this blog

TDT

Hoàng Hạc Lâu

Bi Khúc