Old TTinvan




Album
Today at 2:49 PM
Hello. Anh TRU
Khi nao thi qua Cali day?
Lau lau phai hoi tham nhau , con co mat hay khong nhe!
Da sang lai tiem thuoc 2 nam nay roi, hien lanh tien gia va khong lam gi ca,
Co ranh rang thi qua Cali choi.
Tham 2 Ong Ba.
NDT

Sap qua
Van o nha cu?
Toi qua o do duoc khong
Neu khong duoc
Thi toi o nha anh ban Ham, ban hoc cu
Anh ta OK roi
Nhung nha anh ta xa khu Factory
Cho hoi tham ba Huong
Ong ban NDB sao?
Cho gui loi hoi tham ong ba NDB & ban be Cali
Take Care All
NQT
TB: Chac Noel qua

Re: Hi
Sunday, October 11, 2009
I am fine. Tks…
Vui thấy anh Trụ vẫn ra sức ... đọc và viết
K
Vẫn ra sức?
Độc thiệt!
Đọc và viết, thôi, sao?
Còn... trả đòn nữa chứ!
Tks, anyway!
NQT
*
Gấu Cái, đọc cái mail của bà ngoại O. [Bác gái nói đúng đó – bác chịu khó viết bài có nhập đề-thân bài-kết luận cho bà con dễ đọc với], và cái này, của K, phán, bây giờ, mi rảnh rồi, và coi tình hình sức khoẻ của mi, ta nghĩ, mi dư sức, và dư thì giờ, viết, ít lắm là ba cuốn "tửu thiết".
Gấu cũng có ý đó. Mỗi cuốn chừng 100 -150 trang.
Một thứ truyện vừa.
Cuốn thứ nhất, viết về quãng đời hạnh phúc ở địa ngục Đỗ Hòa, một nông trường cải tạo tại Nhà Bè, thuộc Bộ Thương Binh Xã Hội của VC.
Cuốn thứ nhì, o bế, sửa chữa, hoàn tất tác phẩm Gấu Nhà Văn.
Hãy thế!

Thơ Mỗi Ngày

Theo tin từ nhà thơ Nguyễn Như Mây - một bạn thơ đồng hương Bình Thuận, nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trong 2-3 năm nay bị bệnh suy tim, gần đây trở nặng và đã ra đi vào 9g sáng nay, 4-8, tại nhà riêng (43/17 đường Trần Lê, Phường Đức Long, TP. Phan Thiết
Người khám phá ra cõi thơ Nguyễn Bắc Sơn, là Thanh Tâm Tuyền. Và hai câu thơ mà ông lôi ra để “thổi”, là từ 1 bài thơ - ông không trích toàn bài, mà chỉ hai câu, tromg 1 bài viết chắc là trong mục viết thường xuyên trên tờ Khởi Hành:

Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh hồn chắc sẽ biến thành mây bay.

Sau này, khi đảo xa tung hê thơ tình thằng chả viết cho ta, thì Gấu nhận ra, có thể cũng trong thời gian này, ông đọc thơ Oacar Milosz, bà con của Czeslaw Milosz


Tous les morts sont ivres de pluie vieille et froide
Au cimetière étrange de Lofoten
L'horloge du dégel tictaque lointaine
Au coeur des cercueils pauvres de Lofoten

Et grâce aux trous creusés par le noir printemps
Les corbeaux sont gras de froide chair humaine
Et grâce au maigre vent à la voix d'enfant
Le sommeil est doux au morts de Lofoten

Je ne verrai très probablement jamais
Ni la mer ni les tombes de Lofoten
Et pourtant c'est en moi comme si j'aimais
Ce lointain coin de terre et toute sa peine

Vous disparus, vous suicidés, vous lointaines
Au cimetière étranger de Lofotene
- Le nom sonne à mon oreille étrange et doux.
Vraiment, dites-moi, dormez vous, dormez-vous ?

- Tu pourrais me conter des choses plus drôles
Beau claret dont ma coupe d'argent est pleine.
Des histoires plus charmantes et moins folles ;
Laisse-moi tranquille avec ton Lofoten.

Il fait bon. Dans le foyer doucement traine
La voix du plus mélancolique des mois.
- Ah! les morts, y compris ceux de Lofoten -
Les morts, les morts sont au fond moins morts que moi.

Oscar Vladislas de Lubicz Milosz
Éditions André Silvaire
 
Có thể, TTT đọc bài thơ này, cùng lúc với thơ Nguyễn Bắc Sơn, cùng lúc, viết thư cho đảo xa & về lại Sài Gòn từ Đà Lạt…. và, nhận ra cái ý tưởng bàng bạc giữa thơ của Oscar Milosz, và của NBS:
Tous les morts sont ivres
&

Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh hồn chắc sẽ biến thành mây bay.
Đúng ý Alain, như Steiner trích dẫn làm đề tử trong cuốn mới ra lò của ông, Thơ của Tư tưởng:
Toute pensée commence par un poème.
(Every thought begins with a poem.)
Mọi tư tưởng bắt đầu bằng 1 bài thơ
-Alain: "Commentaire sur 'La Jeune Parque," 1953
Tất cả những người chết thì đều say
Tất cả những người đã chết thì đều say mưa,
[một thứ mưa] xưa, và lạnh
Ở nghĩa trang là lạ là Mạc Đĩnh Chi ở Sài Gòn
Đồng hồ băng tan tích tắc ở xa xa
Ở trái tim của những chiếc hòm nghèo nàn của Sài Gòn
Và nhờ những lỗ thủng được khoét bởi mùa xuân đen
[VC gọi là Đại Thắng Mùa Xuân, Đỉnh Cáo -
hay Cao thì cũng được - Chói Lọi]
Những con quạ mập phì vì thịt người lạnh
Và nhờ ngọn gió gầy có tiếng nói của con nít
Giấc ngủ mới mềm dịu biết bao với những người chết ở Sài Gòn
[Cái gì gì giống như “Ngã ở trên núi khi vác củi”:
Hồn dưng dưng chẳng chút oán sầu?]
Có lẽ Gấu sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy [lại]
Biển Vũng Tầu,
Không,
Những nấm mồ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi
Cũng không.
Nhưng, rõ ràng là, ở trong thằng cu Gấu
[Thằng cu Nghệ, TTT, đúng hơn],
Mới yêu thương làm sao,
Cái nơi chốn xa xăm và tất cả nỗi khổ đau của nó.
Lũ Chúng Ta [chữ của VHC]
Mất tích, tự tử, lạc loài
Ở nơi nghĩa địa là lạ là Mạc Đĩnh Chi
-Ui chao, chỉ nội cái tên thôi mà đã dội ở nơi tai Gấu
Một cái gì là lạ và dịu dàng.
Thực sao, hãy nói cho Gấu biết, bạn ngủ ư, bạn ngủ ư?

Toa có thể kể cho moa nghe những chuyện tức cười hơn
Rượu vang thì đẹp và cái ly sành của moa thì đầy
Những chuyện thú vị, và ít khùng điên ba trợn
Hãy mặc moa với Sài Gòn của toa

[Toa ở đây là ông bạn miệt vườn, bạn quí của thằng Bắc Kít di cư là GCC] 
Trời thì đẹp. Trong bếp lửa,
Nhè nhẹ kéo dài,
Tiếng thở dài dài,
Buồn xiết bao,
Của những ngày ở Sài Gòn.
-Ui chao! những người chết, kể cả những người đã chết ở Sài Gòn,
Những người chết, những người chết, nói cho cùng,
Thì không chết bằng Gấu chết.
Trong "Gặp Gỡ", Kundera đi 1 đường thần sầu, quá thần sầu về Oscar Milosz.
*


Một cuộc gặp gỡ
Cuốn này có lẽ là cuốn tuyệt vời nhất của Kundera. Mỗi bài viết, về một lần gặp gỡ, một tác giả, thì, dùng chữ của Kawabata, đúng như một truyện ngắn ở trong lòng bàn tay, và mượn luôn lời của ông nhà văn này, để giải thích, cả hai:
Những người viết, khi trẻ thường làm thơ. Tôi, thay vì làm thơ, viết những truyện trong lòng bàn tay.... Tinh thần thi ca những ngày trẻ thơ của tôi sống mãi ở trong chúng".
Bài viết ngắn sau đây, về một bài thơ của Oscar Milosz, quá tuyệt. Nhất là khi Kundera giải thích, tại làm sao Gide lại gạt bỏ Milosz ra, trong một tuyển tập thơ Pháp, vào năm 1949, mà ông thực hiện cho Gallimard: Chẳng thể làm sao lại có Oscar Milosz ở trong đó được; thơ của ông không phải Tây; giữ dịt lấy mọi gốc rễ polono-lituanienne của nó, ông trú ẩn ở trong tiếng Tây, như là một tu viện. Chúng ta hãy coi sự từ chối của Gide, như là một cách bảo vệ sự cô đơn không thể nào đụng tới của một kẻ lạ; một Kẻ Lạ. (1)
Ui chao, làm sao mà lại buồn, lại lèm bèm, bực bội, khi tụi hủi nó chừa mình ra?
(1) Kundera viết hoa, chắc là muốn nhắc tới Camus?
*

L'INTOUCHABLE SOLITUDE D'UN ÉTRANGER (Oscar Milosz)
 1
La première fois que j'ai vu le nom d'Oscar Milosz, c'est au-dessus du titre de sa Symphonie de Novembre traduite en tchèque et publiée quelques mois après la guerre dans une revue d'avant-garde dont j'ai été, à dix-sept ans, un lecteur assidu. À quel point cette poésie m'avait envoûté, je l'ai constaté quelque trente ans plus tard, en France, où pour la première fois j'ai pu ouvrir le livre de poésie de Milosz dans l'original français. J'ai vite trouvé la Symphonie de Novembre, et en la lisant j'ai entendu dans ma mémoire toute la traduction tchèque (superbe) de ce poème dont je n'ai pas perdu un seul mot. Dans cette version tchèque, le poème de Milosz avait laissé en moi une trace plus profonde, peut-être, que la poésie que j'avais dévorée à la même époque, celle d'Apollinaire ou de Rimbaud ou de Nezval ou de Desnos. Indubitablement, ces poètes m'avaient émerveillé non seulement par la beauté de leurs vers mais aussi par le mythe entourant leurs noms sacrés, qui me servaient de mots de passe pour me faire reconnaître par les miens, les modernes, les initiés. Mais il n'y avait aucun mythe autour de Milosz: son nom totalement inconnu ne me disait rien et ne disait rien à personne autour de moi. Dans son cas, j'ai été envoûté non pas par un mythe, mais par une beauté agissant d'elle-même, seule, nue, sans aucun soutien extérieur. Soyons sinncères : cela arrive rarement.
2
Mais pourquoi justement ce poème? L'essentiel, je pense, résidait dans la découverte de quelque chose que jamais nulle part ailleurs je n'ai rencontré: la découverte de l'archétype d'une forme de la nostalgie qui s'exprime, grammaticalement, non pas par le passé mais par le futur. Le futur grammatical de la nostalgie. La forme grammaticale qui projette un passé éploré dans un loinntain avenir; qui transforme l'évocation mélancolique de ce qui n'est plus en la tristesse déchirante d'une promesse irréalisable.
Tu seras vêtu de violet pâle, beau chagrin!
Et les fleurs de ton chapeau seront tristes et petites
3
Je me rappelle une représentation de Racine à la Comédie-Française. Pour rendre les répliques naturelles, les acteurs les prononçaient comme si c'était de la prose; ils effaçaient systématiquement la pause à la fin des vers; impossible de reconnaître le rythme de l'alexandrin ni d'entendre les rimes. Peut-être pensaient-ils agir en harmonie avec l'esprit de la poésie moderne qui a abandonné depuis longtemps et le mètre et la rime. Mais le vers libre, au moment de sa naissance, ne voulait pas prosaiser la poésie! Il voulait la débarrasser des cuirasses métriques pour découvrir une autre musicalité, plus naturelle, plus riche. Je garderai à jamais dans mes oreilles la voix chantante des grands poètes surréalistes (tchèques aussi bien que français) récitant leurs vers! De même qu'un alexandrin, un vers libre était lui aussi une unité musicale ininterrompue, terminée par une pause. Cette pause, il faut la faire entendre, dans un alexandrin aussi bien que dans un vers libre, même si cela peut contredire la logique grammaticale de la phrase. C'est précisément dans cette pause cassant la syntaxe que consiste le raffinement mélodique (la provocation mélodique) de l'enjambement. La douloureuse mélodie des Symphonies de Milosz est fondée sur l'enchaînement des enjambements. Un enjambement chez Milosz, c'est un bref silence étonné devant le mot qui arrivera au début de la ligne suivante:
Et le sentier obscur sera là, tout humide
D'un écho de cascades. Et je te parlerai
De la cité sur l'eau et du Rabbi de Bacharach
Et des Nuits de Florence. Il y aura aussi
4
En 1949, André Gide a établi pour les éditions Gallimard une anthologie de la poésie française. Il écrit dans la préface: «X. me reproche de n'avoir rien donné de Milosz. [ ... ] Est-ce un oubli? Non pas. C'est que je n'ai trouvé rien qui me parût particulièrement valoir d'être cité. Je le répète: mon choix n'a rien d'historique et seule la qualité me détermine. » Il y avait, dans l'arrogance de Gide, une part de bon sens: Oscar Milosz n'avait rien à faire dans cette anthologie; sa poésie n'est pas française; gardant toutes ses racines polono-lituaniennes, il s'était réfugié dans la langue des Français comme dans une chartreuse. Considérons donc le refus de Gide comme une noble façon de protéger l'intouchable solitude d'un étranger; d'un Étranger. 

Kundera: Une Rencontre
Không chạm tới được nỗi cô đơn của người lạ
1
Lần đầu tiên tôi thấy tên Oscar Milosz là trên cái tựa Bản Giao Hưởng tháng Mười Một, được dịch ra tiếng Tiệp, được xuất bản vài tháng sau chiến tranh trong một tạp chí thời thượng mà ở tuổi mười bảy, tôi là một độc giả chuyên cần. Bài thơ này đưa tôi lên tận mây xanh, ba mươi năm sau ở Pháp, tôi đã ghi nhận điều này khi lần đầu tiên tôi mở quyển thơ của Milosz trong ấn bản nguyên thủy tiếng pháp. Tôi nhanh chóng tìm thấy bài thơ Bản Giao Hưởng tháng Mười Một, khi đọc lại tôi còn nhớ như in không sót một chữ bài dịch tiếng Tiệp tuyệt vời ngày xưa. Trong bản tiếng Tiệp, bài thơ này đã để dấu ấn sâu đậm trong lòng tôi, có thể, còn hơn cả các bài thơ tôi đọc hồi đó của Apollinaire, Rimbaud, Nezval hay Desnos. Rõ ràng không chối cãi, các bài thơ này huyễn hoặc tôi không những vì nó hay mà còn do huyền thoại tạo ra chung quanh tên tuổi thiêng liêng của họ, làm từ khóa để qua các văn sĩ của tôi, tôi biết ai là người hiện đại, ai là người tiên phong. Nhưng chẳng có huyền thoại nào chung quanh cái tên Milosz, một cái tên lạ hoắc, không làm cho tôi liên tưởng đến ai, và cũng không nhắc tôi nhớ đến ai chung quanh tôi. Trong trường hợp của ông, tôi ngẩn ngơ không phải vì một huyền thoại mà vì chính cái đẹp của nó, một mình, trần trụi, không trụ chống bên ngoài. Chúng ta hãy trung thực với mình chuyện này : chuyện này rất hiếm khi xảy ra.
2
Nhưng tại sao lại chỉ chính bài thơ này ? Tôi nghĩ, chính yếu, là nó nằm trong cái mà tôi chưa bao giờ thấy ở đâu hết : sự khám phá mẫu lý tưởng của một hình thức nhớ nhung mà nó diễn tả, theo ngữ pháp, một loại nhớ nhung không phải qua quá khứ mà qua vị lai. Thời vị lai ngữ pháp của nhớ nhung. Hình thức ngữ pháp phóng chiếu một quá khứ đau buồn lên một tương lai xa xăm ; chuyển tải cái gợi nhớ buồn bã không còn nữa lên nỗi buồn tan nát của một lời hứa không thể nào thực hiện được.
Nỗi buồn xinh xắn ơi, em sẽ khoác chiếc áo màu tìm nhạt,
Và các nụ hoa trên mũ của em sẽ nho nhỏ và buồn buồn.
3
Tôi còn nhớ buổi trình diễn kịch của Racine ở nhà Kịch Comédie-Française. Để làm cho lời đối đáp được tự nhiên, các diễn viên đọc thơ như đọc văn vần; họ xóa một cách có hệ thống phần nghĩ đàng sau mỗi câu thơ; không thể nào nhận ra nhịp điệu alexandrin, cũng không nghe lối họa vần. Có thể họ nghĩ làm như vậy sẽ hài hòa với tinh thần thơ văn hiện đại, loại bỏ từ lâu vừa vần vừa âm luật. Nhưng vần thơ tự do, từ khi sinh ra đã không muốn làm thơ văn tầm thường ! nó muốn loại cái vỏ ngoài kích thước để thấy tính âm nhạc, tự nhiên hơn, phong phú hơn. Tôi lúc nào cũng giữ trong tai tôi giọng nói như hát của các thi sĩ lớn siêu hiện thực đọc thơ (tiệp cũng như pháp) !
4
Năm 1949, André Gide làm một quyển hợp tuyển thơ Pháp cho nhà xuất bản Gallimard. Ông viết trong lời mở đầu: «X. trách tôi đã không dành một chỗ nào cho Milosz. [ ... ] Quên sao? Không. Là vì tôi không thấy một cái gì đặc biệt để đáng đưa ra. Tôi lặp lại: lựa chọn của tôi không có tính cách lịch sử gì hết, chỉ có phẩm chất mới làm tôi quyết định.» Câu nói phách lối của Gide có lý một phần: Oscar Milosz chẳng dính gì trong hợp tuyển này ; thơ của ông không phải là thơ tiếng Pháp; vì ông giữ tất cả nguồn cội gốc rễ Ba Lan-Li-tu-a-ni, ông núp trong ngôn ngữ Pháp như trốn trong tu viện. Chúng ta hãy xem lời từ chối của Gide như một cách quý phái để gìn giữ cái cô đơn không chạm tới được của một người lạ ; một Người Xa Lạ.
[LN dịch]
Note: Cái gọi là phản chiến của thơ NBS, "còn" là do ông thân của ông là 1 ông tướng VC.
Thành ra cũng hơi bị khó, mà ca ngợi nó.
Bài thổi NBS của ĐT, nếu nhìn theo cách của Gấu, thua xa, so với chỉ hai câu thơ của NBS được TTT trích dẫn, theo ý "cũng" của TTT, khi nhắc tới “ngoa ngôn” (1)

(1)

Tên Của Cuộc Chiến



Năm di cư thứ hai mươi [1974], khi viết bài Tử Địa, nghĩ đến những đứa con tư sinh của đất Bắc ở cả hai miền lúc ấy, tôi đã mở bài bằng câu trích đề của Anh, tuyên xưng nó là câu văn bất hủ. [Người ta có thể nghĩ tôi quá lời, sử dụng "ngoa ngôn". Nabokov còn "ngoa" hơn nhiều khi ông bảo: "Cả sự nghiệp của triều đại Sa Hoàng Đại Đế sánh không bằng nửa vần thơ của Pushkin."]
TTT: Trong đất trời

Liệu Gấu này có ngoa ngôn, khi dõng dạc phán: Cả một sự nghiệp 'đường ra trận...', 'mãi mãi tuổi hai mươi', cả một 'nhật ký họ Đặng'... sánh không bằng 'nửa' lời ca của Trần Thiện Thanh: Trong khói súng xây thành, mắt quầng thâm mất ngủ... Sao không hát cho những bà mẹ già, những người còn mải mê, những người vừa nằm xuống chiều qua?

My Letter to the World

  Helen Vendler

Poetry is the scholar's art."
Wallace Stevens, Opus Posthumous
Thơ là nghệ thuật khoa bảng


Cole: You said you don’t often do negative reviews. What do you do with a book you don’t like? How do you handle it?
Vendler: I forget it-you mean if I have to write about it?
Cole: Yes.
Vendler: I tell the truth as I see it. I was reading a biography of Mary McCarthy, and it turns out she was hurt by a review that I did of her Birds of America. But she also believed it to be true, which hurt her more.
Cole: As a writer and a professor, I guess I understand both sides of the equation. This has been interesting. Thank you for taking time out from your academic schedule.
Vendler: Thank you.
[Bà nói, bà không viết nhiều, cái thứ điểm sách tiêu cực - tức chê bai, mạ lị, miệt thị… như GCC thường viết – Bà làm gì với cuốn bà không thích? Làm thế nào bà “handle” nó?
Bạn tính nói, nếu tôi phải viết về nó?
Yes
Thì cứ nói thẳng ra ở đây. Tôi đọc tiểu sử của Mary McCarthy, hóa ra là bà bị tui, chính tui, phạng cho 1 cú đau điếng, khi điểm cuốn "Chim Mẽo" của bà. Nhưng bà cũng nói thêm, tui phạng đúng, và cái đó làm bà còn đau hơn nhiều!]
Ui chao, GCC đã từng gặp đúng như thế, khi phạng nhà thơ NS. Ông đau tới chết,  như 1 bạn văn nhận xét, “anh đâm trúng tim của ông ta, nhà văn nhà thơ dễ dãi và sung sướng và hạnh phúc”!

Cú đánh NTH mà chẳng thú sao!
“Văn chương khủng khiếp”!
Hà, hà!
Đúng là 1 tên “sa đích văn nghệ”, như NS gọi GCC!

Cũng nhờ các blog bạn giới thiệu, tôi mượn được quyển A History of Reading của Alberto Manguel. Quyển sách dày, tôi chỉ mới đọc một chương The Translator as Reader. Rất hay. Đủ để tôi đặt mua sách cũ trên Amazon.

Alberto Manguel dân Canada, như Gấu. Cuốn đầu tiên của ông mà Gấu đọc, đúng là cuốn trên, khi mới ra hải ngoại, qua NTV giới thiệu. 
“Rất hay, đủ để”… Gấu đọc ông nhiều hơn, không chỉ cuốn đó. Trên TV có nhiều trang dành cho ông.
Có thể nói đọc Manguel, cuốn trên, Gấu mới hiểu thêm nhiều, về Kafka. Những trang tuyệt vời nhất, ở trong đó, là về Kafka.
Cuốn này nữa, của ông cũng thật tuyệt. A Reading Diary. Trong cuốn này, Gấu cũng chọn được hai bài viết thú vị, một về cuốn Sa Mạc Tartar, như cái tên gọi bằng tiếng Tẩy, Gấu đọc nó, hồi còn Sài Gòn. Bản tiếng Anh, The Tartar Steppe, của Buzzati.
Và bài viết về Quixote.
Kể như Gấu có gần đủ sách của Manguel, trừ 1 cuốn, chỉ có ở trong thư viện, viết về những nơi chốn thần kỳ do con người phịa ra.
Nước Nam Kỳ

Gấu đọc Tô Hoài rất sớm, và giấc mộng, sẽ có ngày tới được nước Nam Kỳ, là do đọc ông mà có.
Khi còn ở xứ Bắc, mỗi lần đói, mỗi lần rét, mỗi lần ăn miếng ăn, ăn thêm một câu nói, là giấc mơ sẽ có ngày tới được nước Nam Kỳ lại trỗi dậy.
Cho tới khi tới được nước Nam Kỳ.
Tưởng thoả mãn, mà thoả mãn thực, nhưng, oái oăm thay, một nước Nam Kỳ khác xuất hiện!
Lúc thì ở nơi BHD, và cái nước Nam Kỳ lần này, khốn nạn thay, lại chính là cái xứ Bắc Kỳ mà Gấu đã bỏ chạy!
Và ở trong bao nhiêu nước Nam Kỳ khác, do đọc sách mà có!
Trong những “nước Nam Kỳ” do đọc sách những ngày mới lớn mà có đó, có “Sa mạc Tartares” của Dino Buzzati.
Mới đây, đọc A Reading Diary, Alberto Manguel có viết về cuốn này, ông nói là đọc nó vào thời mới lớn, cũng như Gấu, đọc nó vào lúc mới lớn, tại nưóc Nam Kỳ, tại Sài Gòn, khi có BHD.

*


The Tartar Steppe

Similar to other "end of the world" places-Finisterre, Land's End, Tierra del Fuego-Newfoundland has the quality of standing outside ordinary time. St. John's has something of the Fort in Dino Buzzati's novel The Tartar Steppe (which I reread on my return flight): a place that seems impossible to leave but also impossible to reach, a place so anchored in its own routine that nothing from the outside can touch it. Maybe that is why I found St. John's so appealing.


9 hrs ·
HOT: Một trong những tiểu luận quan trọng nhất về nghệ thuật hiện đại: "Tác phẩm nghệ thuật trong kỷ nguyên nhân bản kỹ thuật" của Walter Benjamin sắp có bản dịch tiếng Việt. Để có cảm nhận trước về độ hay và khó khủng khiếp của Benjamin, các bạn tạm thời thưởng thức bản tiếng Anh ở đây:
https://www.marxists.org/…/subject/ph…/works/ge/benjamin.htm
Còn đây là nguyên bản tiếng Đức:
... See More

Note: Cái tít, tiếng Anh, theo GCC, dịch là “tái sản xuất theo kiểu cơ khí”, dịch “nguyên xi” như vậy, bởi là vì, “nhân bản” thì sẽ bị hiểu là clone, cloning, “kỹ thuật”, technical, khác hẳn nghĩa đi, và nguy hiểm hơn nữa, làm người đọc không làm sao hiểu ra được, và sẽ tự hỏi, không lẽ vào thời Walter Benjamin mà đã có “nhân người” [nhân bản]
The Work of Art in the Age of Mechanical Reproduction: Tác phẩm nghệ thuật trong thời đại tái sản xuất theo cách cơ khí [nghĩa là theo kiểu máy móc, dùng máy móc].
Dịch Walter Benjamin rất khó, đúng, vì bạn phải đọc ông ta, làm quen với ông ta, rồi, cái thời của ông ta nữa.
Dịch có cái tên bài viết, mà đã thấy có vấn đề rồi. Đến ngay bạn thân của Walter Benjamin mà còn đếch đọc được ông ta, đâu có dễ nhá! (1)
(1) In March 1936, Adorno had written to Benjamin criticizing his "Work of Art" essay. "My own task is to hold your arm steady until the Brechtian sun has finally sunk beneath its exotic waters." Yet it was precisely to that sun that Benjamin had already turned, having spent considerable time living with the Brecht family in Denmark (for months at a time, from 1934 onwards).

A translation into English would be a luxury rather than a necessity: Câu này, tặng bản tiếng Mít, cũng đặng:
Dịch qua tiếng Mít thì đúng là trò chơi trội, xa xỉ, hơn là 1 sự cần thiết
NQT

Walter Benjamin: A Tribute


*

Về Walter Benjamin. Bài này cũng mới lòi ra, đầu tháng, theo server:

TV đi liền, và chắc chắn sẽ dịch liền, vì GCC mê tay này lắm, cũng đệ tử Cô Ba, nhưng sướng hơn GCC nhiều, vì được Cô Ba gật đầu cho theo hầu!
Trên tờ Literary Review, Dec 2013 / Jan 2014, có 1 bài điểm cuốn mới ra lò, tiểu sử Walter Benjamin, Một đời phê phán, A Critical Life, coi ông là người cuối cùng của chủng loại trưởng giả bực cao, Last of the Haute Bourgoisie.

Mystic, Marxist, man of letters
NICHOLAS JACOBS
Jean-Michel Palmier
WALTER BENJAMIN
Lumpensammler, Engel und bucklicht Mannleinn -
Asthetik und Politik bei Walter Benjamin
Translated from the French by Horst Bruhmann
1,372pp. Frankfurt: Suhrkamp. E64. 9783518585368
Despite George Steiner's consistently eloquent, scrupulous and committed advocacy of Walter Benjamin for over forty years in these columns, the British literary world has taken little notice of him, and he is only perhaps now even beginning to enter the world of German studies in Britain. And although he has been translated into over forty languages, including the substantial four-volume Harvard edition in English, it is primarily writers on media, film and photography, and some graphic artists, who have so far paid most attention to him in Britain. This is partly because Benjamin was first introduced here to a wide audience on the television screen, as far back as 1967, by John Berger in his Ways of Seeing (the book of which was recently reprinted); but it is also because Benjamin is strongly embedded in German and French culture and, however engrossing, original and exciting to read, is difficult to orient in the English-language literary world, with which he had little to do beyond a surprising weakness for Arnold Bennett and Somerset Maugham. However, the more we get to know the real Benjamin emancipated, though never completely, from the Jewish half-mystic, half-Marxist between-all-stools intellectual bequeathed us by Gershom Scholem and Theodor Adorno, the keepers of his flame after his early death (he was forty-eight) - the more he comes to resemble what we once knew as the individual homme de lettres, in the style of Edmund Wilson, or Cyril Connolly, whose own more pessimistic Unquiet Grave sometimes recalls Benjamin's One-Way Street not only in form, just as Connolly's Enemy of Promise sometimes recalls Benjamin’s Berlin Childhood. On the one hand, Connolly's hapless Palinurus; on the other, the "bucklicht Mannlein" (the little hunchhback), that imp of ill fortune which dogged Benjamin.
This massive book, partly a biography of Walter Benjamin, and partly a discursive/ descriptive commentary on his work, remained uncompleted on the author's death and was first published in French in 2006. The reader is not helped by the seventy-page foreword by its French editor, Florent Perrier, whose dazzling characterization of Benjamin, complete with its own virtuoso piece of research on Benjamin's chiffonier, is strictly redundant because it barely mentions Jean-Michel Palmier's book and tells us nothing about him. Not until an Editor's Note on page 1,205 do we learn the extent of the unfinished material included (two of the five parts), and that the editorial policy, in the case of these two unfinished parts, was to include everything possible, as a gesture of loyalty towards an author who sometimes drafted his texts up to five times. From the book's jacket we learn that Palmier taught aesthetics and art history at the University of Paris 1 and died aged fifty-four in 1998.
Palmier writes chronologically, with rich thematic diversions. His aim is not to synthesize but to "deconstruct" and bring out the tensions and make contemporary a work that "can only be read with a beating heart". The palimpsest of quotation and discussion of secondary literature that extends to myriad footnotes makes for demanding reading. The discussion of Benjamin's pampered childhood as the son of a wealthy antique and carpet dealer living in the smartest part of Berlin is particularly rich, drawing on the two great autobiographical texts, Berlin Chronicle and Berlin Childhood, the first providing the raw material (by no means all used) for the second; a characteristic 700-word footnote explains the significance of this. Palmier gives a detailed account, accompanied by quotation from Benjamin's rich correspondence, of his part in the Youth Movement, in which in 1913/14 he played a leading role, but in which he ended up isolated, between the more political (anarchist rather than socialist) radicals, including the later socialist, even Marxist, psychoanalyst Siegfried Bernfeld, and the romantic youth cultist followers of Gustav Wyneken, Benjamin's first inspiration in the Movement. All this came to an end with the outbreak of the First World War - celebrated by Wyneken - and the suicide of Benjamin's close friend, Fritz Heinle.
The three male friendships of the greatest consequence to Benjamin were those with Gershom Scholem, Theodor Adorno and Bertolt Brecht (in chronological order of their meeting). Palmier does justice to all three relationships. Most commentators on Benjamin have followed Scholem in accepting that the Jewish mystical element, particularly in his early thought and writing, greatly encouraged and influenced by Scholem, was a positive, necessary element in his work. For a long time it was difficult to deny this, particularly in Germany. Palmier lets the story speak for itself, in great scholarly detail, without judgment, but with scrupulous attention to the biographical dimension, including Scholem and Benjamin's close friendship which began in 1915 and never ended, but was subject to tension when Benjamin was caught between Scholem's increasingly urgent calls for him to move to Palestine and his own ambition to become the leading literary critic in Germany.
Palmier is unusual in giving a context to the question of the political censorship of Benjamin's work by Adorno, and the latter's criticism of Benjamin's use of Marx, at a time when Benjamin was financially and even existentially dependent on the Institute of Social Research. Palmier points out that the Institute was itself leading a precarious exile existence (in Paris, awaiting transfer to the USA), in the context of post-New Deal America and the Moscow Trials, and therefore had to proceed with political caution. He does not excuse Adorno's intellectually brutal treatment of his friend, but makes it comprehensible. Benjamin stood up remarkably well to the seemingly tactless tone of Adorno's censorious letter of November 10, 1938, which criticized and rejected his long article "The Paris of the Second Empire in Baudelaire" (in Volume Four of the Harvard Benjamin), at one of the darkest moments of his life, when he most needed publication and support. Far from buckling under Adorno's criticism, he revised the article, aware that Adorno and the Institute were his only possible lifeline.
In March 1936, Adorno had written to Benjamin criticizing his "Work of Art" essay. "My own task is to hold your arm steady until the Brechtian sun has finally sunk beneath its exotic waters." Yet it was precisely to that sun that Benjamin had already turned, having spent considerable time living with the Brecht family in Denmark (for months at a time, from 1934 onwards).
Palmier does justice to the Brecht/Benjamin relationship, concentrating on Brecht's vital influence, through his work, on the literary theory which Benjamin developed in face of the rise of fascism. This strictly functional theory of art, expressed in Benjamin's essay "The Author as Producer", with its praise of the Soviet Russian Tretyaakov (albeit already a dissident, soon to be shot), makes Palmier a little uncomfortable, as does the famous call at the end of the "Work of Art" essay: "Such is the aestheticizing of politics cultivated by fascism; communism responds with the politicizing of art". This position was not a general aesthetic manifesto, but a response to a particular situation, even if it was - as Palmier points out - a little late in 1939 when it was published, when even the Popular Front had been and gone.
Palmier has written nothing short of an encyclopedic work from which every reader of Benjamin who can read French or German will greatly benefit. It is a pity that it remained unfinished owing to its author's early death. It is also regrettable that a great publisher like Suhrkamp is unable to give such an important book a proper index. A translation into English would be a luxury rather than a necessity.
http://www.tanvien.net/TG_TP/Walter_Benjamin_Redemption.html


* 

Thương Xá, The Arcades Project, của Benjamin mở ra bằng câu thơ của một thi sĩ Việt Nam, để vinh danh Paris, Kinh Đô Thế Kỷ 19:
The waters are blue, the plants pink, the evening is sweet to look on;
One goes for a walk; the grandes dames go for a walk; behind them stroll the petites dames.
[Những dòng nước xanh, cây cối đỏ hồng, buổi chiều nhìn thú biết bao;
Người ta đi dạo, những mệnh phụ phu nhân đi dạo, theo sau nhẩn nha là những phụ nữ bình dân]
Nguyen Trong Hiep, Paris, capitale de la France: Receuil de vers (Hanoi, 1897), poem 25.
Bản tiếng Anh của Harvard University Press.
Nguyên bản tiếng Pháp [do Nguyễn Tiến Văn sưu tầm]:
Les eaux sont bleues et les plantes roses;
Le soir est doux à contempler;
on se promène.
Les grandes dames se promènent;
derrière elles vont et viennent de petites dames.
Nguyễn Trọng Hiệp [1934-1902], danh thần đời Tự Đức, quê Hà Đông, tác giả những bộ sử quan trọng như Minh Mạng Chính Yếu, Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, từng giữ chức Tổng Tài Quốc Sử Quán.
Hai câu thơ Benjamin trích dẫn, ở trong tập thơ Tây Sà Thi Tập.
Benjamin khởi sự viết Thương Xá tháng Năm 1935, sau khi bỏ chạy Đức Nazi qua Pháp. Vụ Yên Bái nổ ra vào năm 1930. Simone Weil bị ảnh hưởng sâu đậm bởi những bài báo trên tờ Người Paris Nhỏ, về số phận người Annamites, vài tháng sau khi vụ Yên Bay bị dập tắt trong hai tuần lễ. "Tôi không bao giờ quên được lúc mà, lần đầu tiên trong đời, tôi cảm và hiểu được bi kịch thực dân thuộc địa". Chắc là Benjamin cũng bị ảnh hưởng tương tự, và đó là lý do Benjamin mở ra Thương Xá bằng những dòng thơ của Nguyễn Trọng Hiệp, như là một tiên đoán sự cáo chung của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam.
Engels nói với tôi rằng chính tại Paris, vào năm 1848, ở quán Café de la Régence [một trong những trung tâm sớm sủa nhất của cách mạng 1789), Marx đã trình bày cho Engels về định mệnh thuyết kinh tế về lý thuyết duy vật lịch sử của ông. - Paul Lafargue.
Vào năm 1757 cả Paris chỉ có 3 tiệm cà phê.
[Thương Xá, trang 108].
Tôi bị hạ đo ván, khi đọc Thương Xá, nói vậy vẫn chưa đủ mạnh!
Tôi biết, đây là một tác phẩm về lịch sử văn hóa, và nó còn thật có ích,
nếu được đọc như phê bình văn học, hay triết học.
Nhưng tôi không làm sao bỏ qua, ý tưởng, rằng,
đây là một bài thơ sử thi vĩ đại nhất được viết bởi thế kỷ 20:
mẩu đoạn, mâu thuẫn, xung đột, và mời gọi một cách thật là sâu thẳm.
André Alexis, Globe and Mail
Đây là sân khấu của tất cả những cuộc chiến đấu, tất cả những tư tưởng của tôi.
Benjamin viết về Thương Xá
NKTV

Sách Báo

*

Chỉ thấy mưa sa trên nền [màu] cờ đỏ (1)
(1)
Bếp lửa trong văn chương
http://tanvien.net/tg/tg11_beplua.html

Sartre (Situations, I) nhắc tới "ý hướng tính", coi đây là tư tưởng cơ bản của hiện tượng luận: "Husserl đã tái tạo dựng (réinstaller) sự ghê rợn và sự quyến rũ vào trong những sự vật. Ông tái tạo thế giới của những nghệ sĩ và của những nhà tiên tri: Ghê sợ, thù nghịch, nguy hiểm trùng trùng, với những bến cảng, nơi trú ẩn của ân sủng và tình yêu." Tôi đã lầm, khi nghĩ, chẳng bao giờ người ta lại được đọc những trang sách tuyệt vời, về Hà-nội. Có thể là do một câu thơ và viễn ảnh khủng khiếp nó gây ra ở nơi tôi. "Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ" (Trần Dần), câu thơ như một "Apocalypse Now" (Tận Thế Là Đây), không phải chỉ riêng cho Hà-nội. Làm sao mà thi sĩ lại nhìn thấy suốt cuộc chiến sau đó, không phải chiến thắng, mà huỷ diệt, một thành phố, rồi cùng với nó, là biểu tượng của cả một dân tộc ?

http://www.magazine-litteraire.com/mensuel/557/si-2015-calvino-est-reedite-01-07-2015-136405

La rupture avec le PC suivra en 1956 avec l'invasion soviétique en Hongrie. Mais le vrai déclic se fera à Paris au milieu des années 1960, une époque où la capitale française est encore un centre intellectuel, et où Calvino, parallèlement à sa lecture des classiques - notamment Conrad, Shakespeare, Dante -, va rencontrer Barthes, Perec et Lévi-Strauss. Et c'est pourquoi on ne peut pas ne pas éprouver une certaine nostalgie en lisant Si une nuit d'hiver un voyageur. Chez Calvino comme chez Cortázar, par exemple, le structuralisme sans doute a remplacé le marxisme. Mais la théorie n'est pas encore desséchée ni réduite à elle-même. Elle est un carburant, une contre-force à laquelle jamais l'écrivain n'abandonne sa sensibilité. Réduite au rôle de contrainte stimulante, elle permet tous les envols.

« Aucun homme politique dans le monde actuel ne m'inspire autant de sympathie et d'admiration que Hitler »
Không tên nào bảnh được như Bác Hồ, ấy chết xin lỗi, Hitler!

 Viết Mỗi Ngày


*
Thư Tình nơi Sofa
Letter in the Sofa
1957
Life finds a thousand ways to cheat lovers.
Đời kiếm đủ cách để gạt những kẻ yêu nhau

Note: Trong cuốn “Trên lưng voi”, Gấu lọc ra được hai bài tuyệt. “Thư tình” đi trước. Cực kỳ thê lương.
Sẽ đi 1 đường tiếng Mít sau.

Note: Cái truyện ngắn này, trên trang của K, vậy mà bây giờ, nhờ server, mới được đọc.
Phạm Vũ Thịnh, dịch Murakami, thần sầu. Độc giả TV đọc cái này trước, trong khi chờ GCC dịch “thư tình”, của Durrell.

GCC mê nhất 1 câu, nhớ đại khái, thằng cha này, sống đời với nó, cực khó, nhưng chết chung, thì OK
Có em nào muốn, chuyện này, thì đăng ký!

Cái truyện “cùng chết thì OK” này, coi lại hóa ra là đã chôm về Tin Văn từ hồi Diễm Xưa rồi.
Ấy là vì Gấu bực quá, không lẽ chưa... chôm, bèn rà lại folder Giới Thiệu…
Ra luôn cái truyện Liêu Trai thần sầu sau đây.
Đọc Tiểu Thu, thì lại phân vân, có khi duyên, kiếp này, là duyên thừa, của bố, hay của mẹ, kiếp trước!



EBRUARY 6, 2014

Le Promeneur Solitaire: W. G. Sebald on Robert Walser

***
A Place in the Country


The Genius of Robert Walser
http://www.nybooks.com/articles/archives/2000/nov/02/the-genius-of-robert-walser/
J.M. Coetzee
November 2, 2000 Issue

Was Walser a great writer? If one is reluctant to call him great, said Canetti, that is only because nothing could be more alien to him than greatness. In a late poem Walser wrote:

I would wish it on no one to be me.
Only I am capable of bearing myself.
To know so much, to have seen so much, and
To say nothing, just about nothing.

Walser, nhà văn nhớn?
Nếu có người nào đó, gọi ông ta là nhà văn nhớn, 1 cách ngần ngại, thì đó là vì cái từ “nhớn” rất ư là xa lạ với Walser, như Canetti viết.
Như trong 1 bài thơ muộn của mình, Walser viết:

Tớ đếch muốn thằng chó nào như tớ, hoặc nhớ đến tớ, hoặc lèm bèm về tớ, hoặc mong muốn là tớ
Nhất là khi thằng khốn đó ngồi bên ly cà phê!
Một mình tớ, chỉ độc nhất tớ, chịu khốn khổ vì tớ là đủ rồi
Biết thật nhiều, nhòm đủ thứ, và
Đếch nói gì, về bất cứ cái gì

[Dịch hơi bị THNM. Nhưng quái làm sao, lại nhớ tới lời chúc SN/GCC của K!]

Walser được hiểu như là 1 cái link thiếu, giữa Kleist và Kafka. “Tuy nhiên,” Susan Sontag viết, “Vào lúc Walser viết, thì đúng là Kafka [như được hậu thế hiểu], qua lăng kính của Walser. Musil, 1 đấng ái mộ khác giữa những người đương thời của Walser, lần đầu đọc Kafka, phán, ông này thuổng Walser [một trường hợp đặc dị của Walser]."
Walser được ái mộ sớm sủa bởi những đấng cự phách như là Musil, Hesse, Zweig. Benjamin, và Kafka;  đúng ra, Walser, trong đời của mình, được biết nhiều hơn, so với Kafka, hay Benjamin.

W. G. Sebald, in his essay “Le Promeneur Solitaire,” offers the following biographical information concerning the Swiss writer Robert Walser: “Nowhere was he able to settle, never did he acquire the least thing by way of possessions. He had neither a house, nor any fixed abode, nor a single piece of furniture, and as far as clothes are concerned, at most one good suit and one less so…. He did not, I believe, even own the books that he had written.” Sebald goes on to ask, “How is one to understand an author who was so beset by shadows … who created humorous sketches from pure despair, who almost always wrote the same thing and yet never repeated himself, whose prose has the tendency to dissolve upon reading, so that only a few hours later one can barely remember the ephemeral figures, events and things of which it spoke.”

*

Bài viết của Coetzee về Walser, sau đưa vô “Inner Workings, essays 2000-2005”, Gấu đọc rồi, mà chẳng nhớ gì, ấy thế lại còn lầm ông với Kazin, tay này cũng bảnh lắm. Từ từ làm thịt cả hai, hà hà!

Trong cuốn “Moral Agents”, 8 nhà văn Mẽo tạo nên cái gọi là văn hóa Mẽo, Edward Mendelson gọi Lionel Trilling là nhà hiền giả (sage), Alfred Kazin, kẻ bên lề (outsider), W.H, Auden, người hàng xóm (neighbor)…

Bài của Coetzee về Walser, GCC mới đọc lại, không có tính essay nhiều, chỉ kể rông rài về đời Walser, nhưng mở ra bằng cái cảnh Walser trốn ra khỏi nhà thương, nằm chết trên hè đường, thật thê lương:

On Christmas Day, 1956, the police of the town of Herisau in eastern Switzerland were called out: children had stumbled upon the body of a man, frozen to death, in a snowy field. Arriving at the scene, the police took photographs and had the body removed.
The dead man was easily identified: Robert Walser, aged seventy-eight, missing from a local mental hospital. In his earlier years Walser had won something of a reputation, in Switzerland and even in Germany, as a writer. Some of his books were still in print; there had even been a biography of him published. During a quarter of a century in mental institutions, however, his own writing had dried up. Long country walks—like the one on which he had died—had been his main recreation.
The police photographs showed an old man in overcoat and boots lying sprawled in the snow, his eyes open, his jaw slack. These photographs have been widely (and shamelessly) reproduced in the critical literature on Walser that has burgeoned since the 1960s
Walser’s so-called madness, his lonely death, and the posthumously discovered cache of his secret writings were the pillars on which a legend of Walser as a scandalously neglected genius was erected. Even the sudden interest in Walser became part of the scandal. “I ask myself,” wrote the novelist Elias Canetti in 1973, “whether, among those who build their leisurely, secure, dead regular academic life on that of a writer who had lived in misery and despair, there is one who is ashamed of himself.”

Comments

Popular posts from this blog

TDT

Hoàng Hạc Lâu

Bi Khúc