Thơ Serbia







Nam Tư, một xứ sở mà tất cả những nhà thơ mới được thêm vô tuyển tập, họ sinh và và lớn lên và nghĩ về họ, như là người Nam Tư, xứ sở đó đếch còn, trong thập niên 1990, với cả 1 lô những cuộc chiến đẫm máu. Rất nhiều thành phố làng mạc bị tiêu huỷ, hàng ngàn con người bị giết hại, tàn sát, trong khi nhiều hơn thế nhiều, là những con người bị tống xuất ra khỏi nhà của họ. Serb, là 1 trong số những kẻ gây tội, mà cũng là 1 trong số nạn nhân chính, chính xứ sở này, cũng bị chia năm xẻ bẩy, về miền đất, về chính trị, và về mọi đường hướng khác có thể có, qua đó, con người bị tung toé ra khắp mọi nơi, trên một vùng đất rộng - thường xuyên là đụng độ, va chạm, trộn trạo với những nhóm sắc tộc khác, và như thế, mỗi 1 nhóm thì lại có riêng cho nó, một lịch sử và ngay cả 1 văn hóa tách biệt. Vào năm 1999, NATO dội bom Serbia hai tháng rưỡi, nhằm ngăn chặn chiến dịch làm cỏ sắc tộc giống dân Albania, trong một thị trấn Serbian bị tranh cãi, thuộc Kosovo. Những mục tiêu quân sự và dân sự bị ăn bom, và con số thương vong, dân thường, cũng thật đáng kể. Kế tiếp, tổng thống Slobodan Milosevic bị lật đổ, vào Tháng Mười 2000, bởi 1 cuộc nổi dậy của dân chúng, cuộc ám sát tổng thống cải tổ Zoran Djindjic vào Tháng Ba 2003, và sau đó, là hầm bà những đau thương, tang tóc, về kinh tế, về chính trị cho đến tận bây giờ. Những nơi chốn tồi tệ để sinh sống tại một nơi có tên là Nam Tư xưa, nhưng ở Serbia, thì cũng rứa, bị cô lập như nó là, và là một trong những quốc gia bị bỏ rơi, mạt rệp, thật khó mà có được 1 cuộc đời bình thường.
Hàng ngàn con người có học, có văn hóa, có nghề nghiệp bỏ chạy, hầu hết chẳng ai trở về lại. Sách tốt tiếp tục được xb, nhưng những tác giả hiếm được dịch, và gần như vô phương, kiếm được cái visa ngắn hạn đi ngao du nước ngoài.
Mọi người biết tên những tội phạm chiến tranh người Serb, nhưng không một ai biết tên những nhà văn nhà thơ của nó.
Charles Simic
Bạn có thể đọc đoạn trên, và so sánh nó với xứ Mít, sau 30 Tháng Tư 1975. Có 1 đất nước Mít đếch còn hiện hữu. Không chỉ về mặt địa lý, mà về đủ mặt. Một tên Mít lưu vong, thí dụ như Gấu Cà Chớn, giả như có nhớ nhà, thì đếch phải xứ Bắc Kít ngày nào của nó.
Nói tới Bosnia, GCC bỗng nhớ tới Simic và bài viết của ông về cuốn Vợ Hổ, tác phẩm đầu tay của 1 em đến Mẽo từ vùng đất này. Khi viết nó, em 25 tuổi, đến Mẽo năm 1997, khi mới 12.
GCC sẽ post bài điểm sách của ông, trên tờ NYRB, số May, 26, và rảnh rang, sẽ giới thiệu sau.
Cuốn này, theo Simic, chẳng mắc mớ gì tới thứ hồi ức nhớ nhà của 1 di dân giả đò mang dáng 1 thứ tự thuật, mà là của 1 bậc thật có tài, Téa Obreht là một nhà văn có tài lạ thường, rất rành, skilled, trong cái việc trộn lẫn nhiều cách kể chuyện - từ quan sát khách quan những sự kiện, cho tới những câu chuyện trộn cái thực với cái giả - làm nhớ tới những Bulgakov, Garcia Marquez, và Milorad Pavíc, người Serbian, tác giả cuốn Từ điển Khazars, Dictionary of the Khazars.
Ông trích, Obreht viết, “Khi đụng với những điều quá đáng, extremes, ở trong đời, tốt hay xấu, con người thường có khuynh hướng, trước hết, là mò tới mê tín, để tìm cái nghĩa, bằng cách nối kết những sự kiện không mắc mớ gì tới nhau đó, để hiểu chuyện gì đang xẩy ra”; ông viết thêm, không chỉ hiểu, mà còn kinh nghiệm cái đẹp thần sầu, the sheer beauty, của 1 câu chuyện được kể thật tuyệt, the well-told tale. Như Ngàn Lẻ Một Đêm, đây là 1 cuốn sách về kể chuyện, và quyền năng làm chúng ta ngỡ ngàng, đuổi cái chết, chiến tranh, đi chỗ khác chơi, và treo lửng, postpone, điều không thể nào tránh được, the inevitable.  
Trông người lại nghĩ đến ta: Đám bướm Bắc Kít ở Paris chỉ làm nhục lũ Mít chúng ta!

*

Vợ Hổ
*
Yugoslavia, a country in which all these newly added poets were born and grew up thinking of themselves as Yugoslavs, ceased to exist in the 1990s in a series of bloody wars. Many of its cities and villages were destroyed, thousands of innocent people were massacred, while many more than that were expelled from their homes. Serbs, who were one of the main culprits and one of the main victims, were also divided among themselves regionally, politically and in every other possible way that a people scattered over a large geographical area-often intermixed with other ethnic groups, and thus each having their own separate history and even culture-can be. In 1999, NATO bombed Serbia for two and a half months in order to stop the ethnic cleaning of Albanians in the disputed Serbian province of Kosovo. Military and civilian targets were struck and there were significant civilian causalities. That was followed by the overthrow of the president Slobodan Milosevic in October 2000 by popular uprising, the assassination of the reformist president Zoran Djindjic in March 2003, and the continuous political turmoil and economic crises that have not significantly subsided to this day. These were the worst places to live in former Yugoslavia during these years, but in Serbia too, isolated as it was and regarded as a pariah among nations, it was difficult to have a normal life. Thousands of young, educated and professional people escaped, most of them never to return. Good books continued to be published, but their writers were rarely translated and found it near-impossible to get a visa for even a short visit abroad. Everyone knew the names of Serbian war criminals, but almost no one knew the names of its writers and poets.
Nam Tư, một xứ sở mà tất cả những nhà thơ mới được thêm vô tuyển tập, họ sinh và và lớn lên và nghĩ về họ, như là người Nam Tư, xứ sở đó đếch còn, trong thập niên 1990, với cả 1 lô những cuộc chiến đẫm máu. Rất nhiều thành phố làng mạc bị tiêu huỷ, hang ngàn con người bị giết hại, tàn sát, trong khi nhiều hơn thế nhiều, là những con người bị tống xuất ra khỏi nhà của họ. Serb, là 1 trong số những kẻ gây tội, mà cũng là 1 trong số nạn nhân chính, chính xứ sở này, cũng bị chia năm xẻ bẩy, về miền đất, về chính trị, và về mọi đường hướng khác có thể có, qua đó, con người bị tung toé ra khắp mọi nơi, trên một vùng đất rộng - thường xuyên là đụng độ, va chạm, trộn trạo với những nhóm sắc tộc khác, và như thế, mỗi 1 nhóm thì lại có riêng cho nó, một lịch sử và ngay cả 1 văn hóa tách biệt.
Bạn có thể đọc đoạn trên, và so sánh nó với xứ Mít, sau 30 Tháng Tư 1975. Có 1 đất nước Mít đếch còn hiện hữu. Không chỉ về mặt địa lý, mà về đủ mặt. Một tên Mít lưu vong, thí dụ như Gấu Cà Chớn, giả như có nhớ nhà, thì đếch phải xứ Bắc Kít ngày nào của nó.


*
Lẽ dĩ nhiên, muốn dịch 1 bài thơ là 1 chuyện; ban công lý cho nó thì lại là 1 chuyện khác. Mọi cái dịch thì đều là 1 dự phóng không tưởng, nhiều hoặc ít. Đếch thèm để ý đến điều này, 1 thằng dịch như Gấu Cà Chớn thì bèn làm 1 cái cầu nối hai nền văn hóa khác biệt, và những phong cách riêng của hai ngôn ngữ, như thể, đó là 1 điều bình thường nhất mà nó thường làm.
Đúng thế thật, và cũng đếch đúng thế thật.
May mắn cho nó, những truyền thống bản địa, những đặc sản miệt vườn, chúng chẳng phát triển và thịnh vượng, phát đạt trong cô đơn. Mặc dù ngôn ngữ khác nhau và biên cương văn hóa, tin tức về những nhà thơ làm cái chó gì ở Patagonia sau cùng cũng đến tai những nhà thơ ở Mông Cổ. Những nhà thơ Serbia thì cũng rứa. Như Radmila Lazic phán: “Những nhà thơ sống và những nhà thơ chết, thì là anh em. Cái cảm quan thuộc về anh chị em mí nhau như thế, thì mạnh hơn thuộc về quốc gia, sắc tộc, tôn giáo, đực cái….” Đúng là phán cực nổ, gây sốc, cho đến khi chúng ta nhớ ra rằng, hầu hết mọi nhà thơ mà chúng ta từng yêu mến, thì vừa là một ông thánh, vừa là 1 tên dị giáo.”


IVAN V. LALÍC
[1931-1996]
Lalic started publishing in 1952 and his first book, A Child Once came out in 1955. Since then there have been many more books of poetry, all highly regarded) which have been translated into many languages, including English. Most of the poems here are taken from Roll Call of Mirrors, a selection of Lalic's poems published in 1988. He translated Holderlin, Whitman, Dickinson, and many other American poets.
Lalic khởi sự in thơ năm 1952, và tập thơ đầu tay của ông “Đứa bé, Một thời” ra lò năm 1955. Kể từ đó, nhiều tập thơ ra đời, tất cả đều được đánh giá cao, và được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong có tiếng Anh. Hầu hết những bài thơ ở đây là từ Roll Call of Mirrors [tạm dịch, Tiếng gọi cuộn tròn của những tấm gương], một tuyển tập chọn lọc những bài thơ của Lalic được xb năm 1988. Ông dịch Holderlin, Whitman, Dickison, và nhiều nhà thơ Mẽo khác.

Love in July
I
Open this evening like a letter,
Its handwriting spotted with blood of birds
Devoured in the bright lava of the afternoon. 
Open this evening like a rose,
1hat dust, that bronze, and that sweat on your skin,
1hat constellation that breathes.
Open this evening like a letter.
I'm hidden in its handwriting
Like a shadow in the still leaves of a cherry tree,
Or like noon in our blood.
Comes night grown over with rain and cherries,
And the wavering diamonds of sudden freshness.
Open this evening like a letter. 
The date is illegible, time without beginning,
But the signature is clear:
                                    I love.
II 
The taste of the storm in the stalk of the invisible rose
1hat you twirl absentmindedly between your fingers.
Summer golden and dark. 
But there's no wind, and the rain glitters
On your words like phosphorus
On the seams of the water.
Summer golden and dark.
The lightning that travels slower than memory
Will never again give us light in this place.
That lightning still buried in snows and flowers
In its journey around the year.

The taste of rain on your lips,
Summer golden and dark.

Yêu trong Tháng Bẩy
I
Mở buổi chiều nay như lá thư
Chữ viết tay dính máu chim
Bị xâu xé bởi dung nham sáng ngời của buổi xế trưa
Mở buổi chiều nay như bông hồng
Bụi này, đồng này, và mồ hôi này trên da anh
Chòm sao này, thở
Mở chiều nay như tờ thư
Tôi giấu mình trong những hàng chữ viết tay của nó
Như cái bóng của những chiếc lá cây yên lặng trầm tư của một cây anh đào
Hay như buổi trưa trong máu của chúng ta.
Đêm tới, lớn dần lên cùng với mưa và anh đào
Và những viên kim cương chập chờn của cái mát lạnh bất thần
Mở chiều nay như lá thư
Ngày mấy, đọc không ra, thời gian không bắt đầu
Nhưng chữ ký thì thật rõ:
                                    Tôi yêu
II
Mùi vị của trận bão ở trong cái cuống của bông hồng vô hình
Em loay hoay, xoay xoay, một cách lơ đãng, trong những ngón tay của em
Mùa hạ, vàng, và tối.
Nhưng không có gió, và mưa lấp lánh
Trên những từ của em, như lân tinh
Trên những vệt nước
Hạ, vàng, và tối.
Ánh sáng, đi lang thang, với tốc độ chậm hơn hồi nhớ
Sẽ chẳng để cho chúng ta tí nào, ở nơi chốn này
Ánh sáng đó, vẫn bị lấp vùi trong tuyết và hoa
Trong chuyến lữ của nó trong năm
Vị mưa trên môi em
Hạ vàng và tối
*
This new expanded Serbian anthology includes six new poets and a number of additional poems by poets already included in the earlier edition. Again, I sought poets whose work seemed to me of exceptional quality poems were unlike any American readers were likely to encounter at home. My motive for translating has always been very simple. It begins the moment I come across a poem in another language that strikes me as so fine that the mere thought that people who care for poetry in this country are unable to read it seems to me an injustice that needs to be remedied. Of course wanting to translate a poem is one thing; doing justice to it is something else. Every translation is more or less a utopian project. Without quite being aware of it, a translator sets out to bridge two distinct cultures and the idiosyncrasies of two languages as if this was the most normal thing to do. It is, and it isn’t. Luckily for translators, native literary traditions do not develop and thrive in total isolation. Despite numerous language and cultural barriers, the news of poets are up to in Patagonia eventually reaches the poets in Mongolia. The Serbian poets are no different. As Radmila Lazic says: "The living and dead poets are brothers. The feeling of belonging to this brotherhood, or sisterhood, is stronger than the feeling of belonging to a nation, race, religion, gender… “. A shocking claim, until we remember that almost every poet we ever liked was probably both a saint and a heretic. Lẽ dĩ nhiên, muốn dịch 1 bài thơ là 1 chuyện; ban công lý cho nó thì lại là 1 chuyện khác. Mọi cái dịch thì đều là 1 dự phóng không tưởng, nhiều hoặc ít. Đếch thèm để ý đến điều này, 1 thằng dịch như Gấu Cà Chớn thì bèn làm 1 cái cầu nối hai nền văn hóa khác biệt, và những phong cách riêng của hai ngôn ngữ, như thể, đó là 1 điều bình thường nhất mà nó thường làm.
Đúng thế thật, và cũng đếch đúng thế thật.
May mắn cho nó, những truyền thống bản địa, những đặc sản miệt vườn, chúng chẳng phát triển và thịnh vượng, phát đạt trong cô đơn. Mặc dù ngôn ngữ khác nhau và biên cương văn hóa, tin tức về những nhà thơ làm cái chó gì ở Patagonia sau cùng cũng đến tai những nhà thơ ở Mông Cổ. Những nhà thơ Serbia thì cũng rứa. Như Radmila Lazic phán: “Những nhà thơ sống và những nhà thơ chết, thì là anh em. Cái cảm quan thuộc về anh chị em mí nhau như thế, thì mạnh hơn thuộc về quốc gia, sắc tộc, tôn giáo, đực cái….” Đúng là phán cực nổ, gây sốc, cho đến khi chúng ta nhớ ra rằng, hầu hết mọi nhà thơ mà chúng ta từng yêu mến, thì vừa là một ông thánh, vừa là 1 tên dị giáo.”


Introduction to the Updated and Expanded Edition
This new expanded Serbian anthology includes six new poets and a number of additional poems by poets already included in the earlier edition. Again, I sought poets whose work seemed to me of exceptional quality poems were unlike any American readers were likely to encounter at home. My motive for translating has always been very simple. It begins the moment I come across a poem in another language that strikes me as so fine that the mere thought that people who care for poetry in this country are unable to read it seems to me an injustice that needs to be remedied. Of course wanting to translate a poem is one thing; doing justice to it is something else. Every translation is more or less a utopian project. Without quite being aware of it, a translator sets out to bridge two distinct cultures and the idiosyncrasies of two languages as if this was the most normal thing to do. It is, and it isn’t. Luckily for translators, native literary traditions do not develop and thrive in total isolation. Despite numerous language and cultural barriers, the news of poets are up to in Patagonia eventually reaches the poets in Mongolia. The Serbian poets are no different. As Radmila Lazic says: "The living and dead poets are brothers. The feeling of belonging to this brotherhood, or sisterhood, is stronger than the feeling of belonging to a nation, race, religion, gender… “. A shocking claim, until we remember that almost every poet we ever liked was probably both a saint and a heretic.
Yugoslavia, a country in which all these newly added poets were born and grew up thinking of themselves as Yugoslavs, ceased to exist in the 1990s in a series of bloody wars. Many of its cities and villages were destroyed, thousands of innocent people were massacred, while many more than that were expelled from their homes. Serbs, who were one of the main culprits and one of the main victims, were also divided among themselves regionally, politically and in every other possible way that a people scattered over a large geographical area-often intermixed with other ethnic groups, and thus each having their own separate history and even culture-can be. In 1999, NATO bombed Serbia for two and a half months in order to stop the ethnic cleaning of Albanians in the disputed Serbian province of Kosovo. Military and civilian targets were struck and there were significant civilian causalities. That was followed by the overthrow of the president Slobodan Milosevic in October 2000 by popular uprising, the assassination of the reformist president Zoran Djindjic in March 2003, and the continuous political turmoil and economic crises that have not significantly subsided to this day. These were the worst places to live in former Yugoslavia during these years, but in Serbia too, isolated as it was and regarded as a pariah among nations, it was difficult to have a normal life. Thousands of young, educated and professional people escaped, most of them never to return. Good books continued to be published, but their writers were rarely translated and found it near-impossible to get a visa for even a short visit abroad. Everyone knew the names of Serbian war criminals, but almost no one knew the names of its writers and poets.
How much of this unhappy history is reflected in the poetry written at the time? The answer is: not much in any obvious way. None of the poets included here jumped on the nationalist bandwagon, which produced its share of patriotic poetry. Some poets kept a low profile; others like Lazic and Milan Djordjevic were active in the opposition, although their political activity is not reflected in what they wrote in any obvious way. This wariness of poetry with a political message, I imagine, stems from the memory of early communist years in Yugoslavia when poets were called upon to write poems in which the struggle of revolutionary masses against the reactionary forces of the past was depicted and exalted. This forced thoroughly dishonest and nauseating poetry in the service of some cause with which everyone was familiar from school, and it made it hard for poets in the 1990s to write overtly about the horrors that were taking place around them. And yet, the passion, the irreverence, the dark vision in the poetry of these recent poets are undoubtedly reflections of the ghastly events they have lived through. Terror, violence, and injustice are never far off, as in this poem by Danica Vukicevic.
Ave
It's dangerous to live
Smell the enemy
And play up to your lover
It's dangerous to sit
On the beach and listen
To the sun loafing
It's dangerous to stroll
Touch brooding tree trunks
Shake hands in the park
And swing
It's dangerous to live
Sit on the couch
And read a book
Dangerous to think and laugh
Dangerous to yearn
And take a bath
Dangerous to look at things
Dangerous to sleep
And say no in a dream
Dangerous to be good looking
And have oneself photographed
As if death didn't exist
 
I forgot who said, "The poet is like a mechanic in love with the engine of his car." While their neighbors are sitting in front of the TV watching their favorite programs, the poet is in the garage or down in the street with his or her head under the hood of a parked car, changing the spark plugs, adding distilled water to the battery, adjusting the valves, and checking the ignition timing. It's an unusual vehicle whose engine runs on language, both the language of the mechanic's ancestors and the language they use today-an engine, therefore, in need of constant tuning to run properly. As for tradition, that's the junkyard where poets go to look for spare parts. I hope you understand me.
As Clive James said of the great American comedian W. C. Fields, he is "one of those people who are born exiles even if they never leave home." What I find marvelous about these poets is that they are such distinct individuals. Their poems are complex, unorthodox, and unique creations compounded of their own sensibility and of elements of their own native literary tradition. As you'll discover reading this anthology, once their engines are up and running, they will take you to places that will seem both strange and familiar, the way good poems always do, and that you as a reader are not likely to forget.
Charles Simic
NEW HAMPSHIRE, 2010

Death Sentences
I was born too late and I am much too old,
My dear Hamlet,
To be your pimply Ophelia, 
To let my hair like flattened wheat
Spread over the dark waters
And upset the floating water lilies
With my floating eyes, 
To glide fishlike between fishes,
Sink to the bottom like a dead seashell,
Burrow in sand next to shipwrecks oflove,
I, the amphora, entangled in seaweeds. 
1'd rather you take off my dress,
Let it fall at my feet like aspen leaves
The wind shakes without permission
As if there's nothing to it. 
1'd rather have that death sentence:
Eternity of your arms around my neck.
Án Tử
Ta sinh ra quá trễ, và ta lại quá già
Ðể làm nàng Ophelia
đầy mụn trứng cá của mi,
Tên hoàng tử thân thương vừa Hâm lại vừa Liệt của ta ơi!

Ðể tóc ta như lúa mì
Trải dài trên mặt nước tối
Và làm bực mình những bông hoa kèn
Với cặp mắt trôi lềnh bềnh của ta
Ðể lướt như cá giữa đám cá
Chìm xuống đáy biển như cái vỏ
Của m
ột con sò chết
Lặn lội trong cát kế bên những mảnh vỡ của chiếc thuyền tình
Ta, chiếc bình hai quai, bị quấn quýt giữa mớ rong biển

Ta thà để cho mi lột quần áo của ta ra
Và chúng rớt xuống chân ta như những chiếc lá dương
Và gió, vô lễ, chẳng thèm xin phép ta
Nghịch ngợm với chúng
Như thể chẳng có chi là quan trọng
Ta thà có bản án tử, này:
Thiên thu, vĩnh viễn
Vòng tay của mi vòng quanh cổ ta.
RADMILA LAZIC
[1949-]
Radmila Lazic là 1 trong nữ thi sĩ Serbian bảnh nhất hiện đang còn sống. Tác giả 6 tập thơ, với rất nhiều giải thưởng. Viết nhiều tiểu luận văn học và là nhà biên tập một tuyển tập thơ nữ, và một tuyển tập khác, về thư phản chiến, là người thành lập và chủ biên của tạp chí Profemina. Tác phẩm Ðánh thức kẻ đang sống, A Wake for the Living được nhà Graywolf Press xb vào năm 2003
RADMILA LAZIC
[1949-]
Radmila Lazic is one of the best living Serbian poets. She is the author of six collections of poetry, for which she has received several literary prizes. She has published numerous essays on literature and is the editor of an anthology of women's poetry and another of anti-war letters, and the founder and editor of the journal Profemina. A Wake for the Living was published by Graywolf Press in 2003.

Vào cái thời mới lớn của Gấu ở Sài Gòn, có 1 dạo, Saint-Exupéry rất là được đọc và đám con nít mới lớn trong có Gấu rất mê một câu của ông, “cái gì gì”, yêu không phải là nhìn nhau mà là nhìn về cùng một hướng. (1)
Về già, nhìn lại cuộc chiến, nhìn lại cõi thơ Mít, Gấu ngộ thêm ra 1 điều, đây là 1 cảnh báo.
Bạn thử đọc bất cứ một bài thơ tình nào của thi sĩ Mít coi, có bao giờ cả hai anh chị cùng nhìn về 1 hướng, hay chỉ nội nhìn nhau cũng.. đủ rồi?
Nhưng khủng nhất là khi chúng cùng nhìn về một hướng, hướng Nam Kít, thế là bỏ mẹ, thế là ra cái thứ thơ phải có thép, có máu, đường ra trận mùa này đẹp lắm.
Thấy mấy ông VC, Ðại VC, chuyên đẻ ra anh hùng, dũng sĩ diệt Mỹ Ngụy, thí dụ NN, phát điên lên vì bị nhà nước của chính họ, do họ dựng lên, gọi là phản động, Gấu bỗng nhớ đến lần đi trình diện cải tạo tại chỗ, thời gian ngay sau 30 Tháng Tư khi còn là nhân viên Bưu Ðiện, và khi  ông cán bộ quản giáo nhìn Gấu, và, than giùm Gấu, cả nhà mày là Cách Mạng, chỉ có mày là phản động, thú thực, lúc đó Gấu cảm thấy mừng quá, thực sự là như vậy,
Bởi vì như vậy Gấu trở thành tên mọi da đỏ cuối cùng! [Le dernier des Mohicans, Le dernier des Justes!]
Bỗng nhớ... Cao Bồi. Sinh thời, anh rất thích mặc đồ lính VNCH, thứ màu xanh, bó sát người, những lần Gấu gặp anh, thì đều thấy diện bộ đồ như vậy.
Làm sao mà anh không mơ được có 1 ngày là Ngụy, thực sự Ngụy, không phải thứ Ngụy cà chớn đó?
Bởi vì phải xấu hổ, nhục nhã lắm, hơn cả “như 1 tên phản động, một tên Ngụy" thì PXA mới làm được cái việc, làm nhục mình, và làm nhục cái chiến công do ông làm nên, là ăn cướp Miền Nam, khi viết thư xin bạn ký giả Mẽo cũ của ông 32 ngàn đô, cho con trai của ông đi du học ở Mẽo.
(1)
Life has taught us that love does not consist in gazing at each other but in looking outward in the same direction.
Antoine de Saint-Exupery 
Bài “thơ tình” trên, của một em Serbia, liệu có em Mít nào làm nổi?
Và “bà mẹ huyền thoại” của TCS, hẳn là thua bà mẹ trong bài thơ “Chiến Tranh” sau đây, của Charles Simic.

War
The trembling finger of a woman
Goes down the list of casualties
On the evening of the first snow
The house is cold and the list is long.
All our names are included.
Ngón tay run rẩy của người đàn bà
Chạy dọc theo, không phải
danh sách chiến lợi phẩm,
mà là những mất mát, tổn hại.
Vào một buổi chiều đầu tuyết.
Căn nhà thì lạnh, và danh sách thì dài.
Tên của tất cả chúng ta thì đều có trong đó.




 

Comments

Popular posts from this blog

Hoàng Hạc Lâu

Bi Khúc

TDT