Skip to main content

Một Trang Tin Văn Cũ

Đọc & Viết


Đọc/Viết mỗi ngày
Pham Doan Trang
9 hrs

DŨNG CẢM HAY “ĐIẾC KHÔNG SỢ SÚNG”

Trong tiếng Anh, có một từ mà tiếng Việt chưa có cách dịch ngắn gọn tương ứng, là từ “government critic”, tức là “người phê phán/ chỉ trích chính quyền”.

Những người đó ở Việt Nam có thể được gán cho đủ danh hiệu hoặc chụp cho đủ thứ mũ, như “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà dân chủ”, “phản động”, “thế lực thù địch, chống phá chế độ”…

...Continue Readin

Note: Kh
ông đúng như vậy, theo GCC. Nhờ truyền thông 1 phần lớn.
VC trước, giết người, không sợ bị hê. Bây giờ chúng sợ, cho chính bản thân chúng nhiều
hơn là cho chế độ.
Những chuyện như dùng gạch đập cho chết, để tiết kiệm 1 viên đạn, đối với Phạm Quỳnh, ai thấy, thí dụ, cho thấy sự khác biệt
Cả hai cuộc chiến khủng khiếp như thế mà VC chỉ phạm có MỘT tội ác độc nhất, là làm thịt 1 vị xã trưởng VNCH!

http://www.tanvien.net/tin_van_va_doc_gia/chay_vc.html

Nguyễn Quốc Trụ
Thư góp ý cùng độc giả Nguyễn Việt Kiều

Cái mánh loại trừ là bản năng tự vệ của mọi chuyên viên
The trick of elimination is every expert’s defensive reflex.

(Stanislaw Lem: Imaginary Magnitude)

Vụ da cam đang nóng, nóng dây chuyền tới những vụ khác, như thảm sát Mậu Thân, mà những tài liệu từ một diễn đàn trên lưới cho thấy, không phải VC mà là CH [Cộng Hoà] gây nên. Rồi ngày nào, là vụ pháo kích vô một trường học ở Cai Lậy, cũng pháo CH, không phải hoả tiễn VC.

Nếu có chăng, là độc nhất một tấm hình, chụp một ông xã trưởng bị VC chặt đầu, rồi dùng chính cái sọ dừa, dằn bản án lên bụng tử thi, trên bìa tờ Time của Mẽo ngày nào, mà độc nhất Gấu tui còn nhớ.
Ngoài ra là… chấm hết!

Cả cuộc chiến, VC không gây một tội ác nào khác. Nếu có, là phải đợi tới sau 1975.
Chúng ta tự hỏi, liệu sau này, lịch sử sẽ phải giải thích như thế nào, về trường hợp quái dị trên đây?

Cả một dân tộc chạy ra biển cả để trốn VC, mà VC thì tốt như thế, không hề gây ra tới… “hai” tội ác.

Để giải thích trường hợp quái dị trên đây, Gấu tui đành mượn một câu, nhà văn Đức Sebald trích dẫn, trong cuốn Về lịch sử tự nhiên của huỷ diệt (On The Natural History Of Destruction) của ông:

Cái mánh loại trừ là bản năng tự vệ của mọi chuyên viên
The trick of elimination is every expert’s defensive reflex.
(Stanislaw Lem: Imaginary Magnitude)

Nói rõ hơn, mấy ông VC rất rành về chuyện chùi mép - nghĩa là loại trừ mọi rủi ro, bị phanh phui, bị bật mí - này.
Chỉ tội ông tướng Loan, nghe nói, đã từng mời báo chí Mẽo tới chứng kiến ông xử một anh VC ngay tại trận tiền, những ngày Mậu Thân.

Sep 18, 2016

Tiểu luận thứ ba về Tự Lực văn đoàn

Tại sao khi các nhà văn trẻ mãnh liệt nhất muốn chôn vùi một thứ gì đó, nhất định họ chỉ có thể nhìn thấy khả năng chôn Tự Lực văn đoàn?

Tại sao cả Thanh Tâm Tuyền lẫn Trần Dần, vào thời điểm ý chí văn chương của họ bộc phát bùng nổ, đều, từ hai địa điểm, chú mục vào cùng một đối tượng mà họ thấy là nhất thiết phải giết đi: Tự Lực văn đoàn?


http://www.tanvien.net/Viet/tlvd_looking_back.html


Đánh giá lại Tự Lực Văn Đoàn (1)

Nhưng không được. Tôi không thể chịu nổi sự trong sáng, nhẹ nhàng, hiền lành và chậm chạp của các cuốn sách ấy. Cuối cùng, bao giờ tôi cũng bỏ cuộc. Hoặc buông sách. Hoặc đọc nhảy lóc cóc từng khúc.
NHQ

Cả 1 bộ lạc Cờ Lăng và râu ria  làm 1 cuộc thổi Tự Lực Văn Đoàn, thú thực, Gấu chẳng đọc được 1 bài nào ra hồn!
Nhưng khủng nhất là bài của Thầy Cuốc!
Hóa ra Thầy không biết 1 tí gì về thế nào là truyện ngắn, thế nào là truyện dài, là tiểu thuyết, và thảm hơn nữa, Thầy chê TLVD hết lời.
Chê, thì cũng được thôi, nhưng, lại “nhưng”, Thầy viện thêm mấy đấng nữa, đám hậu duệ TLVD, cũng chê luôn!

TLVD, nếu bỏ đi ba thứ tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh, hay của Hoàng Đạo, thì những truyện ngắn của Thạch Lam, chẳng hạn, mà chẳng thần sầu, vượt thời gian ư?

Chỉ nội một truyện Sợi Tóc, mà chẳng khủng sao, chưa kể cái truyện hai em điếm, ngày Tết, nhớ nhà, cúng ông bà, không có cái bát nhang, bèn lấy luôn cái chén ngày thường rửa buớm, sau mỗi lần đi khách, một công đôi chuyện!
Tuyệt như thế mà Thầy Kuốc chê!
Khoan chưa nói đến tiểu thuyết, thí dụ, Đôi Bạn của Nhất Linh.
Cái sự chê bai TLVD theo Gấu, một phần là do nhóm Sáng Tạo mà ra. Nhưng Sáng Tạo, khi "làm cỏ" TLVD, là có lý do của họ. Khoan sẽ bàn tiếp.
Cái ý "đọc nhảy lóc cóc" của Thầy Cuốc, là từ TTT, khi ông chê văn chương TLVD, trong 1 cuộc thảo luận bàn tròn của nhóm Sáng Tạo, về TLVD, bạn có thể kiếm thấy trên talawas.

Văn chương TLVD được coi như thứ văn chuẩn, và được đưa vô trong trường lớp, của nền giáo dục VNCH sau 1954 tại Miền Nam, cùng với 1 số nhà văn tiền chiến khác ở bên ngoài TLVD, trong số đó, có 1 ông có thể coi là Thầy của TTT, là Nguyên Hồng, như chính ông có lần viết ra. Cái sự đánh giá lại TLVD nếu có, là phải từ hai cái nhìn quy chiếu ấy, tức là từ cái cú đánh TLVD của Sáng Tạo, và từ cái quan điểm coi TLVD là văn chương chuẩn của 1 chế độ, trong khi Miền Bắc, cùng thời với nó, là 1 nền sư phạm học về hận thù, mà 1 trong những thành tựu tiêu biểu của nó, là Sến Cô Nương, như chính Sến thú nhận, trong bài viết "Còn lại gì", hay "Cái còn lại", "What remains". Nếu mượn cái tít này, thì cái tít cho cú thổi TLVD phải là "Cái còn lại", sau tiền chiến, TLVD, Sáng Tạo, và cùng với tất cả, là di sản văn minh của một Miền Nam đã không còn.

Nhất Linh là 1 bậc thầy viết tiểu thuyết. Cuốn "Viết và Đọc Tiểu Thuyết" của ông là 1 cuốn đại cẩm nang cho bất cứ ai mơ tưởng trở thành tiểu thuyết gia. Ở trong mảng tiểu thuyết của ông, cũng có tới ba mảng, tiêu biểu bằng ba cuốn: Đôi Bạn, Xóm Cầu Mới, Dòng Sông Thanh Thuỷ. Chúng khác hẳn nhau. Đôi Bạn là của thời mới lớn, và cùng với nó, là cuộc tình Dũng Loan, đâu có thua 1 mối tình thơ dại nổi tiếng nào trên thế giới: Dũng làm nhớ đến Camus và câu phán nổi tiếng của ông: Chúng ta – lũ mới lớn – luôn có dáng điệu của 1 kẻ sắp sửa ra đi. Xóm Cầu Mới là 1 tham vọng lúc đã chin mõm trong nghề văn: Viết 1 trường thiên tiểu thuyết, roman-fleuve, tiểu thuyết sông, tiểu thuyết ngăn kéo, roman-tirroir, cứ mở mỗi ngăn, là có 1 cuốn… với những nhân vật từ “nowhere” trôi giạt, tụ vào 1 bãi sông, nước.
Dòng Sông Thanh Thuỷ
mới ghê: Quốc Cộng giết nhau cứ tỉnh bơ, không có toát ra 1 tí mùi ý thức hệ, hay hận thù, “giết như không giết” [cái này là nhại văn Gấu Cái: "viết như không viết"!]



&

Note: Cuốn này, cũng tuyệt. Trong 1 bài viết ngắn, Reader's Block, Dyer, cảnh cáo thú đọc sách, và cho biết, càng ngày ông càng bớt đọc, và trích 1 câu của Nietzsche:
Sáng sớm, vớ cuốn sách đọc, tôi coi đó, là, bửn.
'Early in the morning, at break of day, in all the freshness and dawn of one's strength, to read a book - I call that vicious!'
Nietzsche: Ecce Homo

Cái kinh nghiệm đọc, đọc sách nào, về già, nhìn lại, với riêng GCC, là 1 thử thách của ông Trời, đối với 1 độc giả, và sau khi thử thách rồi, thì là món quà của Xừ Luỷ!

TV xin post lại, kinh nghiệm của Kafka, và đây là 1 dẫn nhập tuyệt hảo cho cái việc đọc:

Cuộc Xét Nghiệm [The Test]

Tôi là một người hầu, nhưng không có việc làm. Nhút nhát, lại ít khi tỏ ra hết mình, thực ra tôi chẳng chịu sắp hàng, chen lấn với người khác; nhưng đây chỉ là một lý do khiến tôi thất nghiệp; cũng có thể chẳng có chi liên can tới chuyện thất nghiệp của tôi, trong bất cứ trường hợp nào, chuyện là thế này: chẳng bao giờ người ta gọi tôi đi hầu; những người khác được gọi, tuy họ chẳng cố gắng gì hơn tôi, mà thực ra có khi họ còn chẳng cảm thấy cái ao ước được gọi, trong khi tôi, ít ra đôi lúc cảm thấy điều này một cách thật dữ dội.
Vậy là tôi nằm dài trong khu sảnh dành cho người hầu, ngó lên chùm ánh sáng trên trần, mơ mơ màng màng, chợt thức, và lại rơi vào giấc ngủ. Đôi khi, tôi bước vào quán, nơi người ta bán bia đắng, đôi khi tôi cũng nốc nó một cách ghê tởm, nhưng những lần khác, tôi uống nó…
Một lần tôi vô quán, một người khách ngồi ở chỗ tôi hay ngồi quan sát mọi người. Tôi không dám nhìn ông ta thật gần, và quay mình tính bỏ đi. Nhưng người khách gọi giật lại; hóa ra cũng là một người hầu, tôi có gặp trước đó, nhưng chưa từng nói chuyện với anh ta.
-Tại sao anh bỏ chạy? Hãy ngồi đây làm một ly. Tôi trả tiền.
Vậy là tôi ngồi xuống. Anh hỏi tôi đôi điều, nhưng tôi không thể trả lời, thực ra là tôi không hiểu ngay cả những câu hỏi của anh ta. Thế là tôi nói: "Có lẽ anh buồn vì anh đã mời tôi, như vậy tôi nên đi thì hơn", và tôi tính đứng dậy. Nhưng anh ta vươn tay qua bàn đẩy tôi ngồi xuống. "Hãy ở lại", anh ta nói, "đây chỉ là một cuộc xét nghiệm. Kẻ nào không trả lời những câu hỏi, là qua được cuộc xét nghiệm".

Nên nhớ, Kafka đã từng phán, Ông Trời năn nỉ tôi, đừng viết, NO!
Đọc, với ông, chắc
cũng rứa.
Nhưng căng nhất, là đọc cái gì?
Một anh Tẫu chẳng đã phán, thứ nhà văn bảnh nhất trên đời, là thứ, đếch thích viết!
Vưỡn cũ
ng thế, thứ độc giả bảnh, đếch thích đọc!

Có thể nói, tất cả cái đọc của GCC, là 1 thử thách, của Ông Trời, nhắm trả lời cuộc xét nghiệm, liệu mi chịu nổ
i... Lò Thiêu?
Hà, hà!
Phách lối thật
Chọc chúng chửi!

*

Larry Burrows

In 1997 Horst Faas and Tim Page published Requiem, a homage to the 135 photographers who died while covering the wars in Indochina and Vietnam. The work of Larry Burrows, who photographed the war in Vietnam from 1962 until he died in a helicopter shot down on the border with Laos in 1971, was central to that undertaking. Vietnam, a more extensive selection of his work, enables us to see his achievement more extensively and to define it more clearly.
    Burrows was born in London in 1926. He left school at sixteen and got a job in Life magazine's London bureau, where he printed thousands of pictures by Robert Capa and others. It would be hard to exaggerate the effect of this apprenticeship on his subsequent career. Capa practically invented the genre of combat photography and defined the standards by which it would be judged. If your- pictures aren't good enough, he was fond of saying, thats because you're not close enough. Burrows took Capa at his word. In Vietnam a colleague decided that Burrows was either the bravest man in the world or the most short-sighted. Tales of that myopic bravery are legion, and Burrows himself thought 'the best thing that happens . . . is when someone turns around and says, "Well, you've taken your chances with the rest of us. '" Like other photographers in Vietnam Burrows fell into- the habit of edging right up to death, but whereas Page and Sean Flynn (son of Errol) were swash-buckling, wild, stoned, Burrows was distinguished by his patience and meticulous calm. It is possible to detect these qualities in the formal elegance of the work. While Capa said he would 'rather have a strong image that is technically bad than vice-versa', Burrows was obsessed with making strong, technically perfect images. Looking at his best photos reminds me of some documentary footage I once saw of men coming suddenly under fire in Bosnia. Everyone hit the dirt. It took a while to take in what was so strange and unnerving about this footage. Then I realized that the camera recording it all had remained absolutely steady
    This unflinching quality is seen to dramatic effect in a black-and- white' photo-essay published in Life in April 1963. Burrows was photographing a Marine helicopter' squadron, focusing on James Farley, a fresh-faced twenty-one-year-old gunner. In the course of what was expected to be a routine mission the squad comes under heavy fire. One of the helicopters goes down and Farley's chopper lands nearby, attempting to rescue the crew. By the time they are airborne again two badly wounded men are sprawled on the floor of the helicopter. One of them dies. The resulting photos have all the cramped panic and horror of Snowdon's death in Catch-22. But what makes them into a perfect story is the shot of Farley back at base, sobbing, aged by more than a decade in the course of a dozen photographs.
    That was the luxury of working for Life: an absence of deadlines and the freedom to construct a narrative around photographs rather than taking them to illustrate breaking news. Burrows used these freedoms to similar effect in the color sequence on Operation Prairie (1966), which culminates in the famous image of the wounded black sergeant apparently reaching towards his white comrade, also wounded. On the one hand it's an unadulterated image of the chaos, mud and blood of the aftermath of combat. But it is also a classic Life-like image in that it is, simultaneously, a statement of fact (this really happened) and, precisely by virtue of the unimpeachable quality : its evidence, an illustration of a larger truth (in this case the equality of suffering and tenderness between races) which might not : true at all. What we have, in other words, is a vivid example of e camera's unique capability: not the creation of a myth but its depiction.
    It would be a mistake, therefore, to see images like this as proof the photographer's anti-war stance. At that time, in fact, Burrows was still, in his own words, 'rather a hawk'. It was only later, in 1969, that he attained A Degree of Disillusion. That was the title of another photo-essay, belatedly focusing on the impact of the war on the Vietnamese' as Philip Jones Griffiths had done throughout his time there. By then Burrows said the faces all over Vietnam were 'more tired' and 'dazed' than he had ever known. In Roger Mattingly's well-known 1971 portrait that fatigue can be seen in Burrows' own face. He looks exactly like one of the combat-numbed grunts he had so often pictured: a sign of how the gap between photographer and his subjects was shrinking, lethally. This is suggested still more powerfully by Henri Huets picture in ReqUiem of Burrows helping to carry a wounded soldier, whipped back by a chopper's downdraught. Burrows' thick- framed spectacles make him instantly recognizable, which is slightly odd given that the photo is so like one by him, thereby forcing the viewer to concede that a Burrows image is not as instantly recognizable as is often claimed. Indeed, to this observer, Huet's images and Burrows' are often almost interchangeable. Since the two photographers died together on that helicopter flight on the Laos border this is not inappropriate. But the images in the pages of Vietnam also have much in common with those in Page's Nam (1983). Page was spectacularly high on the 'glamour' of war; according to his epitaph in Life, on the other hand, when Burrows looked at war 'what he saw was people'. Except, it turns out, his coverage of 'The Air War' shows Burrows to be just as intoxicated by the psychedelic technology of American fire- power as Page was. Two almost identically framed shots, taken at the same moment, in 1969, in Cholon - one in color by Burrows, the other in black-and-white by Griffiths - of a blood-drenched woman with a soldier kneeling over her, staring nine hundred yards into the distance, crop up in both Vietnam and Vietnam Inc. (the Welshman's camera can be seen in the bottom right-hand comer of Burrows' picture). *
    This is not to diminish Burrows' individual talent or achievement. It is simply to recognize the accuracy of Sontag's judgement from the '70s, namely that 'the very success of photojournalism lies in the difficulty of distinguishing one superior photographer's work from another, except insofar as he or she has monopolized a particular subject' - and in Vietnam they were all shooting the same subject. Similarly, Burrows has always been praised for his humanity and compassion when, if you think about it, what would really set a photographer apart would be the ability to photograph injury, suffering and death with a lack of compassion, even, possibly, with a touch of glee. No, Burrows is a great photographer less because of what distinguishes him as an artist than because of what he has in common with his colleagues and subjects. And I think that those trademark spectacles of his enable us to view his legend (in the cartographic sense) more clearly:
It's a classic sixth-form debate: whether to take photographs of the injured or to try to help them. Burrows repeatedly took photographs of wounded men being helped by their comrades, even when they were themselves wounded. He was drawn to such scenes because they dramatized that ethical dilemma so clearly as to simultaneously resolve it. Looking at photos like this it is striking how often one or more of the people doing the helping are wearing spectacles like Burrows'. Maybe it's just a coincidence (though that in itself is almost meaningless in a medium that is about visual coincidences) but it is difficult not to regard these bespectacled helpers as the active representatives of Burrows's own seared conviction: that showing the wound was also a way of tending to it.

2002

* Actually, they are even more similar than I thought: although Jones Griffiths' image is printed in black-and-white in Vietnam Inc., it was shot in color.


Note: Kinh Cầu, trước Tin Văn có post, lấy từ trang báo điện tử của Dirck Halstead, nhưng sau bị cấm, trang báo cũng cấm luôn.
Nghe nói, nó được về VN, thêm hình ảnh nhiếp ảnh viên VC.
Cũng được.

Tin Văn post bài này, nhân nhớ bạn cũ Sawada, và cái lần anh mò lên nhà Gấu, ở hẻm Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận, nhân có hình cần gửi gấp.

Cái đọc, cái viết, cái việc làm 1 thằng kỹ thuật viên Bưu Điện trông coi mạch VTD quốc tế.... tất cả là để sửa soạn cho cú vô Lò Thiêu, khi sống đời thứ nhì của GCC, ở hải ngoại.

Phi mi ra, ai vô được....  địa ngục?

Imre Kertész: «Auschwitz a été mon école»

“Auschwitz a été mon école” : Imre Kertész est mort

“Auschwitz a été mon école” : Imre Kertész est mort


Né à Budapest le 9 novembre 1929, Imre Kertész est déporté à Auschwitz en 1944, à l'âge de 15 ans, puis transféré à Buchenwald. Après la guerre, il revient en Hongrie et devient journaliste. Dans les années 1950, il se consacre à la traduction et à l'écriture. Son plus grand livre, "Etre sans destin", a connu un succès mondial. (SIPA)
En 2009, le prix Nobel 2002, qui souffrait de la maladie de Parkinson, nous avait parlé du trauma universel des camps. Entretien exclusif avec Imre Kertész, qui était un sage de notre temps

Imre Kertész : “Auschwitz a été mon école”
Lò Thiêu là trường
lớp của tôi

A 79 ans, Imre Kertész n'a rien perdu de son regard pétillant, ni de son humour Mitteleuropa. L'écrivain hongrois, lauréat du prix Nobel de littérature 2002, reçoit comme toujours dans les salons de l'hôtel Kempinski, sur le Ku'damm, les Champs-Elysées de Berlin. A deux pas de son domicile. Atteint de la maladie de Parkinson, il voyage de moins en moins.

De tous les auteurs qui ont consacré leur oeuvre à l'Holocauste, l'écrivain hongrois est certainement le plus paradoxal. Rescapé du camp d'extermination d'Auschwitz-Birkenau, ce fils d'une famille juive modeste de Budapest est l'auteur d'une oeuvre prolifique («Etre sans destin», «Kaddish pour l'enfant qui ne naîtra pas», «le Refus», «Liquidation», etc.), où se chevauchent deux univers concentrationnaires. Contrairement à d'autres artistes, Imre Kertész n'a jamais cherché à fuir la Hongrie communiste, jugeant même qu'elle l'avait d'une certaine façon «sauvé» du traumatisme de l'Holocauste.

En 2002, treize ans après la chute du Mur, il décide de s'installer à Berlin, «cette ville qui ne cache pas son passé». Il aime d'ailleurs la langue allemande (il a traduit Nietzsche, Hofmannsthal, Freud, Roth, Wittgenstein). Si Imre Kertész n'a pas publié à proprement parler de témoignage sur Auschwitz, il a recréé un univers où le romanesque et l'autobiographie se mêlent aux questions universelles de la survie et de l'exil, mais aussi de l'humain, du religieux et de l'éthique.

Il n'est pas seulement un romancier, c'est aussi un théoricien de l'Holocauste et du totalitarisme en général. A travers ses essais, considérations et discours se dessine la biographie intellectuelle d'un très grand écrivain européen.
Vous aimez cet article ?Inscrivez-vous à la Newsletter de l'Obs

Odile Benyahia-Kouider

Le Nouvel Observateur. Selon vous, Auschwitz oblige à penser la «négativité» de l'humain. Que voulez-vous dire par là?

Theo ông, Lò Thiêu bắt nghĩ “bi quan, tiêu cực” về con người? 

Imre Kertész. L'Holocauste est différent des autres génocides. Parce qu'il a eu lieu au sein de la civilisation chrétienne. Ce qui est arrivé a ruiné de manière spectaculaire toutes les valeurs qui avaient cours jusqu'alors. C'est rare d'assister à un traumatisme humain universel de cette nature.

Lò Thiêu khác những cú diệt chủng khác, bởi là vì nó là “con cưng” của tinh thần, văn minh Ky Tô, nó huỷ diệt thật cụp lạc “gia tài của mẹ”, có được từ trước cho tới bây giờ.
 

Le titre de votre ouvrage, «l'Holocauste comme culture», n'est-il pas provocateur?

Cái tít của cuốn sách của ông, cực khiêu khích, “Lò Thiêu như Văn Hoá”?

I. Kertész. En 1992, j'ai reçu une invitation de l'université de Vienne pour un colloque sur Jean Améry [opposant au régime nazi et rescapé d'Auschwitz qui s'est suicidé en 1978]. Je n'avais jamais entendu son nom. Je me suis donc empressé de lire plusieurs livres, que j'ai trouvés fantastiques. J'ai pris le risque de dire qu'Auschwitz et l'Holocauste faisaient totalement partie de notre culture, au même titre que notre langue, notre musique, notre littérature. A ma grande surprise, cet essai n'a pas été mal interprété, ni mal accepté.

Quả thế, nhưng thiên hạ coi bộ lại khoái, cái ý tưởng, không phải nền văn minh sông Hồng đưa đến Tận Thế là đây, với Mít, mà chính là Cái Ác Bắc Kít.
Rõ ràng là không có 1 tên Bắc Kít nào tỏ ra bực bội về Tù Cải Tạo, thì Tù Cải Tạo phải thuộc v
văn hoá, văn minh sông Hồng!

Vous expliquez avoir mieux supporté le traumatisme des camps de concentration que des écrivains comme Romain Gary, Jean Améry ou Primo Levi parce que vous avez ensuite vécu sous le communisme. N'est-ce pas paradoxal?

I. Kertész. Enfant, je n'avais connu qu'un régime totalitaire. Du coup, quand je suis revenu en Hongrie, ce n'était pas si difficile pour moi de comprendre ce qui était en train de se tramer. Les indices étaient les mêmes. J'ai vu comment on transformait l'humain en rouage d'une machinerie. J'ai vécu l'insurrection de Budapest en 1956. Dans ces situations, personne ne veut réfléchir, on veut juste vivre.

Tout était mensonge, le monde entier était mensonge. Mais la plupart ont gardé la raison dans cette absurdité. Moi, j'avais le sentiment que mon identité était déformée, que j'avais perdu ma normalité. Mais je n'arrivais pas à en trouver l'explication. Je me demandais si mon «anormalité» était devenue la normalité. Ou si j'étais devenu un autre.

http://tanvien.net/TG_TP/Jean_Amery.html

Moi, je traine le fardeau de la faute collective, dis-je, pas eux.
Jean Améry viết, trong Vượt quá tội ác và hình phạt, Par-delà le crime et le châtiment.

Gấu cũng có thể nói như thế:
Ta mang cái gánh nặng của Cái Ác Bắc Kít, đâu phải lũ Bắc Kít?


*


My Old Saigon

https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/albums/72157665925001473


*

Tôi viết dưới ánh sáng của một ngọn nến: Sài-gòn. 

Đêm, vẫn đêm đêm, như hồn ma cố tìm cách nhập xác, như tên trộm muốn đánh cắp thời gian đã mất, mi một mình trở lại Sài-gòn, quán Cái Chùa. Những buổi sáng ghé 19 Ngô Đức Kế, nếu không có Radiophoto cần chuyển, thay vì như người ta trở về nhà chở vợ đi ăn sáng rồi đưa tới sở làm, mi chạy xe dọc đường Tự Do, ngó con phố bắt đầu một ngày rồi ghé quán Cái Chùa làm người khách thứ nhất, chẳng cần ra dấu, người bồi bàn tự động mang tới ly cà phê sữa, chiếc bánh croissant, và mi ngồi trầm ngâm tưởng tượng cô bạn chắc giờ nầy đang ngó xuống trang sách, cuốn tập tại giảng đường Văn Khoa khi đó đã chuyển về đường Cường Để, cũng gần nơi làm việc, tự nhủ thầm buổi trưa có nên giả đò ghé qua, tuy vẫn ghi danh chứng chỉ Triết Học Tây Phương nhưng gặp ông thầy quá hắc ám đành chẳng bao giờ tới Đại Học, nếu có chăng thì cũng chỉ lảng vảng ở khu chứng chỉ Việt Hán. Rồi lũ bạn rảnh rỗi cũng dần dần tới đủ... Lại vẫn những lời châm chọc, khích bác lẫn nhau, đó cũng là một cách che giấu nỗi sợ, nếu đủ tay thì lại kéo tới nhà Nguyễn Đình Toàn làm canh xì.


* *


*

Note: Gấu viết truyện ngắn “Những Ngày Ở Saigon” đúng thời gian nằm dưỡng thương do xực hai trái mìn Claymore của VC ở nhà hàng nổi Mỹ Cảnh. Do làm cho UPI nên dưỡng thương ngay tại  Đài Liên Lạc VTD, số 5 Phan Đình Phùng.
Nhân Trần Công Quốc, 1 trong Thất Hiền đưa vợ đi làm [bà vợ là nữ điện thoại viên ở Đài] bèn nhờ anh đưa bản thảo cho ông anh TTT, khi ghé nhà thăm bà cụ. Ông anh đăng liền trên Nghệ Thuật số 9, và gọi điện thoại, nhắn, khi nào hết dưỡng thương thì xuống tòa soạn lãnh tiền nhuận bút.
Gấu vào làng văn như thế đó.
Viết cho Văn, là do gặp NDT tại tiệm phở số 44 PDP, dưới chân Đài, phía bên kia Đài Phát Thanh Sài Gòn. Anh đến bàn, tự giới thiệu, và đề nghị viết cho Văn. Truyện ngắn đầu tiên viết cho Văn, là Thời Gian, 1 trong Tứ Tấu Khúc. Bà vợ NDT là người đầu tiên đọc nó, trong dạng bản thảo. Lần gặp đầu tiên, khi NDT đưa tới nhà giới thiệu [nhà anh ở ngay dưới chân Đài Liên Lạc VTD, trong 1 chung cư thuộc Bưu Điện, khu Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao], bà nói, anh đúng là văn sĩ mê gái!

Review:
‘Looking for “The Stranger,”’ the Making of an Existential Masterpiece

Books of The Times
By JOHN WILLIAMS SEPT. 15, 2016

http://www.nytimes.com/2016/09/16/books/looking-for-the-stranger-alice-kaplan-camus.html?action=click&contentCollection=books&region=rank&module=package&version=highlights&contentPlacement=1&pgtype=sectionfront&_r=0


Sự thành hình tuyệt tác hiện sinh, "Kẻ Xa Lạ".

Tại làm sao, trong "Kẻ Xa Lạ",
tên Ả Rập bị Meursault làm thịt, "không có tên", trong khi, trong "Phản Điều Tra", 1 tác phẩm viết lại "Kẻ Xa Lạ", cũng đợp Goncourt, tên Ả Rập lại bắt buộc "phải có tên"?

The lack of a name for the Arab could be seen as simply underscoring the meaningless absurdity of his death. But such a reading would be helped if Meursault’s own existence lacked a deeper meaning; harder to countenance when, for instance, Camus once described him as “the only Christ we deserve.”
Toward the end of her book, Ms. Kaplan writes about Kamel Daoud, whose 2015 novel, “The Meursault Investigation,” put the Arab at center stage. It gave him a name, Musa, a family and his own experience of life in French-ruled Algeria. Then, in an epilogue, Ms. Kaplan goes a step further and looks for the identity of the Arab involved in the real-life altercation (in which no one died) that inspired the novel’s pivotal scene. What she learns about him is fascinating, and how she writes about parallels between him and Camus is a lovely example of her own imaginative powers and stylish prose.

Looking for ‘The Stranger’
Albert Camus and the Life of a Literary Classic

By Alice Kaplan

Đọc/Viết mỗi ngày
Mankind tomorrow
Future shock
Nhân loại tương lai: C
ú
sốc nặng

A bestselling Israeli historian looks at where mankind is heading
Sep 17th 2016 | From the print edition

Homo Deus: A Brief History of Tomorrow. By Yuval Noah Harari. Harper; 440 pages; $35. Harvill Secker; £25.

“SAPIENS”, Yuval Noah Harari’s previous book which came out in 2011, looked to the past. Zipping through 70,000 years of human history, it showed that there is nothing special about our species: no divine right, no unique human spark. Only the blind hand of evolution lies behind the ascent of man. That work ended with the thought that the story of Homo sapiens may be coming to an end. In his new book, “Homo Deus”, the Israeli historian heads off into the future.
In one thrilling sweep, Mr Harari proclaims that the old enemies of mankind— plague, famine and war—are now manageable. “For the first time in history,” he writes, “more people die today from eating too much than from eating too little; more people die from old age than from infectious diseases; and more people commit suicide than are killed by soldiers, terrorists and criminals combined.” Instead, the challenges of the third millennium will be how to achieve immortality, happiness and divinity, the latter in the sense of enhancing people’s physical and cognitive abilities beyond the biological norm.
This might sound like good news, but the author has a dystopian vision. People, increasingly, will cede jobs and decisions to machines and algorithms. The “useless masses” cast aside by this development will pursue the mirage of happiness with drugs and virtual reality. Only the super-rich will reap the true rewards of the new technologies, commandeering evolution with intelligent design, editing their genomes and eventually merging with machines. Mr Harari envisages an elite caste of Homo sapiens evolving into something unrecognisable: Homo deus. In this brave new world, the rest of mankind will be left feeling like “a Neanderthal hunter in Wall Street”.
Mr Harari’s prophecy is bleak, but it is far from new. More interesting is the way he roots his speculation about technology in the context of how liberal democracy has evolved. For most of human history, Mr Harari says, humans believed in gods. This lent their world a cosmic order. But then, at least in some parts of the world, science began simultaneously to give mankind power and to strip it of meaning by relegating religion to the sidelines. This existential hole was filled by a new religion, humanism, that “sanctifies the life, happiness and power of Homo sapiens”, he writes. The covenant between humanism and science has defined modern society: the latter helps people achieve the goals set by the former.

But the life sciences are now undermining free will and individualism, which are the foundations of humanism. Mr Harari describes scientific research that, in his eyes, proves that the “free individual is just a fictional tale concocted by an assembly of biochemical algorithms”. As it dawns on mankind that free will is an illusion and external algorithms can predict people’s behaviour, Mr Harari believes liberal democracy will collapse. What will replace it? Perhaps a techno-religion such as “Dataism” that treats everything in terms of data processing and whose supreme value is the flow of information. In this context, Homo sapiens is a rather unimpressive algorithm, destined for obsolescence—or an upgrade.

Although there is plenty to admire in the ambitious scope of this book, ultimately it is a glib work, full of corner-cutting sleights of hand and unsatisfactory generalisations. Mr Harari has a tendency towards scientific name-dropping—words like biotech, nanotechnology and artificial intelligence abound—but he rarely engages with these topics in any serious way. Instead, he races along in a slick flow of TED-talk prose. Holes in his arguments blur like the spokes of a spinning wheel, giving an illusion of solidity but no more. When the reader stops to think, “Homo Deus” is suddenly less convincing, its air of super-confidence seductive but misleading.

*

Bạn của Sartre & Marcuse, ngay từ thập niên 1970, ông đã tố cáo cơn khùng điên sản xuất của chủ nghĩa tư bản, kẻ thù dã man của sinh thái.

*

André GORZ (1923-2007), ici en 1978. De son vrai nom Gérard Horst, il signait également sous le nom de Michel Bosquet. (©Fonds André Gorz / IMEC)
C'était en décembre 2006. Moins d'un an avant son suicide, le fondateur de l'écologie politique et ancien journaliste au "Nouvel Observateur"

Le Nouvel Observateur. «Ecologiste avant la lettre», comment définissez-vous l'écologie?
André Gorz. De toutes les définitions possibles, j'aimerais privilégier d'abord la moins scientifique, celle qui est à l'origine du mouvement écologiste, à savoir le souci du milieu de vie en tant que déterminant de la qualité de la vie et de la qualité d'une civilisation.
Les premières grandes manifestations de ce souci se sont développées en Amérique du Nord, puis au Japon, puis en Allemagne, d'où elles ont gagné le reste de l'Europe. Elles ont pris la forme de mouvements de protestation, souvent violemment réprimés, contre la confiscation de l'espace public par des méga-industries, des aéroports, des autoroutes qui venaient bouleverser, bétonner, techniciser le peu de milieu «naturel» qui restait et répandre des polluants et des nuisances.



Steps

“Những con dã tràng”, truyện đầu tay của GCC, được TTT chọn, tính đăng trên Sáng Tạo, nhưng do báo ngỏm, ông bèn đưa cái mớ bài vở còn dư đó, qua báo Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong và những đấng như DNM, TDT….
Lẽ dĩ nhiên, bị ném vô thùng rác.
Gấu đọc thấy tên của mình trong mục Hộp Thư Tòa Soạn, tuy chẳng hề gửi, thì đoán vậy, nhưng cũng chẳng nói gì với ông anh. Vả chăng vào lúc đó, lo học, lo tốt nghiệp, ra trường, có việc làm kiếm ra tiền, nuôi gia đình, và nếu có cơ hội, học tiếp.
Chỉ đến khi đọc Faulkner, và viết được cái truyện ngắn đầu tay “Những Ngày Ở Sài Gòn” thì Gấu mới biết, mình sẽ trở thành nhà văn, theo nghĩa, nhờ kiếm ra sư phụ và kiếm ra văn phong của mình. Đây là cơ may đặc biệt của GCC, nhờ đọc được sách Tẩy, mà thoát kiếp nhà văn Mít chỉ đọc chữ Mít, không thể đọc 1 thứ chữ nào khác. Trường hợp hai phiên bản của TTT, là DNM và NDT cho thấy, tại làm sao mà TTT lại phán, nó sẽ đi xa hơn DNM. Ông không hề nói, Gấu viết hay hơn DNM hay NDT. Ông phán, nó sẽ đi xa hơn.

“Những con dã tràng”, với riêng Gấu, khi về già, nhìn lại, quả là bảnh nhất trong số những truyện ngắn của Gấu, và khác biệt hẳn với số còn lại. Nó là đỉnh cao của thứ văn chương “hiện sinh”, theo nghĩa, hục hặc với chính mình, “đêm không là đêm” nhưng mà là “đêm tóc rối”!

Gấu nhớ bà cụ thân sinh TTT & Bạn C, đọc, lắc đầu, phán, thằng này bịnh.

Ui chao phải đến mãi sau này, ra được hải ngoại, đọc “The Steps”, bản tiếng Anh, thì Gấu mới nhớ lại câu của Cụ.

Trong "The Steps", có 1 chương - Gấu đọc cuốn này khi mới lớn bản tiếng Tây, Les Pas, sau này nhớ lại, lầm là tập truyện ngắn - trong có xen y chang trong “Những Con Dã Tràng”, xen ngồi chiếc đu, nhưng bịnh hơn nhiều:

Bấy giờ gió thổi mạnh, cành lá xào xạc ở phía trên đầu. Đám phi lao ngập ngừng chuyển mình, nửa muốn phụ họa gió, nửa muốn kéo dài giấc ngủ im lìm buổi trưa. H. cùng đứa em đánh đu ở phía trước. Hàng cây che khuất tầm nhìn của tôi. Mỗi lần chiếc đu trở lui về phía sau, thân hình người con gái lại hiện ra giữa hai thân cây phi lao, rồi lại mất đi một cách đều đặn.

Xen này, 1 vị độc giả, trên Blog NL, lôi ra để đi 1 đường còm.
Một vị thân hũu, nhà văn, quen biết từ hồi Quán Chùa, thì suýt soa, cực "sex"!

Trong Steps, là xen, hai nhân vật nam & nữ, khoả thân, làm tình qua gương:

One day an older nun stopped me in the corridor. She asked me whether I knew what I was doing, and when I said I didn't understand, she said the staff had a name for people like myself: hyaenidae. As I still failed to -understand, she said: hyenas. Men of my kind, she said, lurked around bodies that were dying; each time I fed upon the woman, I hastened her death.

Cái việc ném vô thùng rác tòa soạn báo Văn Nghệ, truyện ngắn đầu tay của Gấu, về già nghĩ lại, Gấu thầm cảm ơn số phận. Nếu không là bỏ mẹ rồi!
Là thành 1 đấng TTT thứ ba!

Cái chuyện gặp được Faulkner, may mắn, nhưng giả như gặp, không phải tác phẩm Absalom, Absalom! mà là một cuốn khác, cũng của ông, cũng hỏng cẳng!

Thầy Trò cũng đếch nhận ra nhau!

GCC đã từng phán, toàn bộ tác phẩm của… Cô Tư, là từ cái khúc mở ra Absalom, Absalom!, dù Cô Tư chẳng hề đọc Faulkner.
Trường hợp GCC thì cũng xêm xêm.
Khác, là có đọc.
Anh sinh viên miệt vườn, trước khi từ giã quê nhà, vô Đại Học, được bà cô nhắn, đến gặp bả.

Và nghe bả kể, về “Miền Nam Sâu Thẳm”.
Về Colonel Sutpen 
* *

JERZY KOSINSKI: STEPS

The next afternoon I found a pretext to visit the sanatorium. Patients in brightly patterned pullovers and tight pants strolled about the corridors. Others slept huddled in blankets. Filmy shadows cut across the deserted deck chairs on the sunny terrace, and the canvas snapped in the sharp breezes that scattered down from the peaks. I saw a woman reclining in a chair. Her shawl, casually thrown around her shoulders, exposed her long, suntanned neck. As I lingered, gazing, she glanced at me thoughtfully, and then smiled. My shadow fell across her when I introduced myself. The visiting rules were very strict, and I was permitted to spend only two hours a day in her room. I couldn't get too close to her: she would not let me. She was very ill and coughed continually. Often she brought up blood. She shivered, became feverish; her cheeks flushed. Her hands and feet would sweat. During one of my visits she asked me to make love to her. I locked the door. After I had undressed she told me to look into the large mirror in the corner of the room. I saw her in the mirror and our eyes met. Then she got up from the bed, took off her robe, and stepped over to the mirror. She stood very dose to it, touching my reflection with one hand and pressing her body with the other. I could see her breasts and her flanks. She waited for me while I concentrated more and more on the thought that it was I who stood there within the mirror and that it was my flesh her hands and lips were touching. But in a low yet urgent voice, she would stop me whenever I took a step toward her. We would make love again: she standing as before in front of the mirror, and I, a pace away, my sight riveted upon her. Her life, was measured and constantly checked by various instruments, recorded on negatives, charted and filed away by a succession of doctors and nurses, reinforced by needles piercing her chest and veins, breathed in from oxygen bottles and breathed out into tubes. My brief visits were interrupted more and more frequently by the- intrusion of doctors, nurses, or attendants who came to change the oxygen cylinders or give- new medicines. One day an older nun stopped me in the corridor. She asked me whether I knew what I was doing, and when I said I didn't understand, she said the staff had a name for people like myself: hyaenidae. As I still failed to -understand, she said: hyenas. Men of my kind, she said, lurked around bodies that were dying; each time I fed upon the woman, I hastened her death.

As time went on her condition visibly deteriorated. I sat in her room, staring at her pale face lit only by an occasional flush. The hands on the bedspread were thin, with a delicate network of bluish veins. Her frail shoulders heaving with every breath, she surreptitiously wiped off the perspiration which rose steadily on her forehead. I sat quietly and stared at the mirror while she slept; it reflected the cold, white rectangles of the walls and ceiling. The nuns glided silently in and out of the room, but I succeeded in never meeting their eyes. They bent over the patient, wiping her forehead, moistening her lips with wads of cotton, whispering some secret language into her ears. Their clumsy dresses flapped like the wings of restless birds. I would step out onto the terrace, quickly closing the door behind me. The wind was ceaselessly driving the snow over the crusted fields, filling the deep footprints and diagonal tracks left from the previous day. I held the soft plump cushion of fresh snow from the frozen railings. For a moment it shimmered in my warm palm before turning into dripping slush.

More and more often I was denied access to her room, and I spent those hours alone in my apartment. Later, before going to sleep, I would pullout from the desk drawer several albums filled with my photographs of her, carefully enlarged and painstakingly pasted onto stiff cardboard. 'I would place these enlargements in a corner of my bedroom and sit in front of them, recalling the events of the hospital room and the images within the mirror. In some of the photographs she was naked; now I had them before me, for myself alone. I looked at these pictures as if they were mirrors in which I could see at any moment my own face floating ghost-like on her flesh. Then I would step out on my balcony. Around the sanatorium the lights from the windows touched the snow, which no longer seemed fresh. I would gaze at the faint lights until they began to disappear. From beyond the breadth and width of the valleys and hills, streaked by wooded slopes, the moonlight lit up frozen peaks and streams of vaporous clouds being lured from the shadows of narrow defiles, A door clanged shut; a car horn sounded in the distance. Suddenly figures appeared between the snowdrifts. They scrambled through the fields toward the sanatorium, now and then lost, as if straining against the stifling dust storm of a drought stricken plain.

 



Đọc/Viết mỗi ngày

http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/ph-bnh-van-hoc-the-ky-xx-ky-21/

They have aged terribly; today we can see that there was little originality in these works. Un-communication, the absurd, had been expressed in Kafka in a more tremulous and disturbing way; the technique of fragmentation came from John Dos Passos, and Malraux
had written about political topics with a vitality that one never feels, even in the best story of that sort that Sartre wrote: 'The Childhood of a leader".
Mario Vargas Llosa: The Mandarin

Chúng có tuổi một cách khủng khiếp; ngày này, chúng ta có thể nhìn thấy, chẳng có mấy tí uyên nguyên, đồ zin, đồ xịn nào ở trong những tác phẩm đó. Sự không thể cảm thông, sự phi lý, đã được Kafka diễn tả bảnh hơn nhiề
u, nhức nhối hơn nhiểu, kỹ thuật viết từng mảnh vụn, thuổng Dos Passos, và Malraux viết về những đề tài chính trị sống động, như thể trước ông chưa từng có người nào viết được như thế, thứ số một của Sartre, thí dụ như truyện ngắn Thời thơ ấu của tay trùm, Enfance d'un Chef (?) cũng chỉ đáng xách dép.

Những tác phẩm như thế đem đến cho tuổi mới lớn Mỹ Châu La Tinh cái gì?
Chúng kéo nó ra khỏi mùi vị tỉnh lẻ, cái vẻ mục nát, gỉ sét, khiến nó bất bình với cái mầu mè địa phương...

Nhân đọc nữ phê bình gia Mít Thụy Khê, viết về Sartre, trên Văn Vịt. Bà này, do không phải dân trong nghề, cũng tay ngang, nhảy dù vào giới phê bình, nên phán loạn cào cào.
Cái từ Situations, theo Gấu, nên dịch là Nhận Định, chữ Nguyễn Văn Trung, khi viết những bài viết của ông, mà gốc của nó, là từ Situations của Sartre.

Sartre có hai thời kỳ, một, khi ông tin vào chữ, và coi viết là hành động. "Xuống thuyền, dấn thân…", đây là mảng văn chương hiện sinh “nhập cuộc” lừng lẫy 1 thời. Và Vargas Llosa chọn Sartre, là vậy. Rồi đến khi Sartre chán viết quá, và mất niềm tin vào chữ, ông trả lời 1 tờ báo, Đứng trước 1 đứa trẻ chết đói (En face, không phải "Bên cạnh" như bà TK viết), cuốn La Nausée của tôi chẳng có ký lô nào. Vargas Llosa bèn bye Thầy.
Đó cũng là thời gian xuất hiện cái gọi là tiểu thuyết mới ở Tẩy, và Sartre phạng luôn, ở những nước nghèo đói, ai đọc chúng?
Và đám này bèn làm 1 cuộc bàn tròn, với cái tít “Que peut la littérature?”, Văn chương có thể [làm] gì? Và 1 trong những nhà văn, hình như là Yves Berger, Gấu không nhớ rõ, trả lời Sartre, đứa trẻ chết đói đó ở đâu, có cần tôi giúp gì không, OK, có tôi, nhưng sau đó, ông cho tôi tiếp tục viết nhé!


Sartre có 1 thời cực bảnh. Ông rất coi thường tiền bạc, như 1 tay đệ tử của ông, Jean Cau, trong cuốn Témoins, cho biết. Cho ông Nobel, ông lắc đầu, cho 1 tên chết đuối, OK, cho 1 tên đã lên bờ như tôi, vô ích, nhảm nhí. Nhưng câu phán nổi tiếng 1 thời của ông, nhiều lắm, sợ bà TK không biết, thí dụ: Con người bị kết án phải tự do. Cái nhìn biến tha nhân thành đồ vật, Địa ngục, là tha nhân...
Jean Cau, trong Témoins de Sartre, viết về sư phụ của ông:
Chỉ vài ghi chú mà tôi ghi vội ở một mẩu giấy. Vài nét, vài giai thoại, vài suy nghĩ của riêng tôi. Chỉ có vậy. Cái mẫu mã này [model, chỉ Sartre] không thuộc về tôi, và rung bần bật, trong hàng ngàn tấm gương của kỷ niệm, và của sự trung thực. Vả chăng, chỉ là những mẩu của một Sartre. Của tôi.
Ở trong ông, vào lúc đương độ, đương thời nhất, có một con bò đực, bò mộng [un taureau], hay đúng hơn, một con bò thiến non [un bouvillon]. Ông ta không bước đi [marcher], mà cứ thế lao tới, vuông một cục, hai vai tảng thần, trong cái cú chuyển động của nửa thân hình phía bên trên bị ném về phiá trước, nhưng, tuy nhiên, vẫn trong cái dáng vẻ như thế, lại còn có một điệu nhảy, une danse.... Ông ta ngắn một mẩu: ngắn chân, ngắn cổ, ngắn tay.
*
Ui chao, quái quỉ thật, vừa mới viết đến đây, Gấu chợt nhớ đến những lời Hoàng Đông Phương, tức Nguyễn Thị Hoàng, mô tả Gấu, sau khi Gấu điểm cuốn Vào Nơi Gió Cát của bà, trên tờ Tiền Tuyến:
[Thằng cha vừa lún vừa lé đó] đi giống như một con bồ câu mất óc.
*
Trong Chứng nhân về Sartre, có bài viết, trả lời phỏng vấn, của Claude Lanzmann, tay làm phim Shoah. Ông viết về Les Mots, Những Chữ, của Sartre, cảnh cáo: Đừng có bạ ai cũng đọc nó, đừng có xúi ai đọc nó. Ông chửi dân Tây: cộng đồng yêu nước, đồng bào của Sartre không biết đọc Sartre, và nói như thế có nghĩa, họ đếch bao giờ thực sự yêu thương Sartre!


Ông ta có 1 đòn làm tôi mê hoặc. Khi ông suy nghĩ, hay lắng nghe, vai phải của ông nhô lên, cùng lúc thân hình né ra khỏi cánh tay gấp lại. Những võ sĩ, phiá trái trong tình trạng báo động [gauche en alerte], có thế ra đòn như vậy, bằng tay phải, khi chuẩn bị tung ra quả đấm.
Không biết có phải đòn này có từ thời ông học đấm, khi là giáo sư tại Havre?
Hay là, những bàn luận văn chương, triết học, thì với ông, cũng giống như 1 trận đấu võ:
Ông chờ đợi những ý kiến, lý lẽ của đối thủ, y chang 1 tay võ sĩ chờ địch thủ ra đòn?

Jean Cau, viết về sư phụ Sartre, Phác họa hồi ức, Croquis de mémoire, trong Témoins de Sartre (1)

Thầy Kuốc quả là khác Gấu – đúng như lũ đệ tử của ông chửi, mi làm sao mà so với Thầy của chúng tao. Đâu có phải ai cũng được VC coi trọng & sợ hãi tới mức, lần nào nhớ nhà về, cũng bị “mời khéo”, quê hương - hồi hộp hay không hồi hộp, âm thầm hay không âm thầm, công khai hay không công khai… - đếch cần đến sự đóng góp của Thầy! (2)

Bởi là vì Thầy Phúc, có 1 lần, đã nhận xét về cách viết của GCC, sau khi đọc “VP, nhà văn Bình Định”, hay “Một Chuyến Đi”...  thời gian Gấu cộng tác với tờ Văn Học của NMG:

Đây là môn "viết công" Lăng Ba Vi Bộ! 

Bạn đọc chắc còn nhớ Đoàn Dự, đếch thích học võ công, nhưng cũng chẳng muốn ai thoi mình, bèn được Thần Tiên Nương Tử, người đẹp ở trong động, dạy môn học này, chỉ để bỏ chạy.
“Chú hiền lắm, khác hẳn mấy ông kia”, một nhà văn “ra đi từ Miền Bắc”, nhận x
ét


*


Tiểu Thuyết Mới ở Việt Nam

Trong bài phỏng vấn do Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện, đăng trên Văn Học (Hoa Kỳ), Nguyễn Xuân Hoàng cho biết, trong số những người viết được gộp chung vào một nhóm, Huỳnh Phan Anh là người mặn mà nhất với cái gọi là tiểu thuyết mới.

Theo tôi, người xứng đáng "đại diện" cho tiểu thuyết mới ở Việt Nam phải là Hoàng Ngọc Biên. Anh không những là người đầu tiên giới thiệu trào lưu tiểu thuyết mới tại Pháp tới độc giả Việt Nam, như Nguyễn Xuân Hoàng cho biết trong bài phỏng vấn, nhưng còn đem áp dụng lối viết đó, vào trong tác phẩm, trong tập truyện "Đêm ngủ ở tỉnh" của anh. Người mà anh "mặn" nhất, là Michel Butor. Hồi đó, tụi này thường gọi đùa, "Voilà Monsieur Biên-Butor ", mỗi lần anh tình cờ ghé quán Cái Chùa, ở đường Tự Do Sài-gòn. 

Cũng trong bài phỏng vấn, Nguyễn Xuân Hoàng cho biết, Nguyễn Đình Toàn đã có tác phẩm, và đã nổi tiếng, trước khi "la cà đàn đúm" với đám tiểu thuyết mới. Với cá nhân người viết, Nguyễn Đình Toàn đọc những bài viết của tôi trên Nghệ Thuật, rồi nhân một bữa cùng ăn sáng tại quán phở 44, (ngay phía trước Đài Phát Thanh Sài-gòn, số 5, Phan đình Phùng, nơi anh làm việc, còn tôi làm việc tại building số 7 kế bên), anh đề nghị tôi viết cho Văn. Đó là lần đầu tiên tôi quen biết Toàn. Anh cũng là người "khám phá" và đưa Huỳnh Phan Anh tới với tạp chí Văn, khi cả đám chúng tôi đã trở thành thân thiết. 

Trong Văn Học Tổng Quan, Võ Phiến coi Dương Nghiễm Mậu có lẽ là người thành công nhất và sớm sủa nhất, sử dụng các kỹ thuật mới vào văn chương Việt Nam. "Trong cuốn truyện dài Con Sâu chẳng hạn, 'tôí không phải là một nhân vật nào, khi là nhân vật này, khi lại là nhân vật nọ; sự chuyển vị xẩy ra thoăn thoắt làm nổi bật sự thay đổi đột ngột những quan điểm nhìn sự vật khác nhau". Trong một bài viết của Mai Thảo, trong "Chân dung nhà văn", ông lại coi người tài hoa nhất của nhóm tiểu thuyết mới tại Việt Nam là Nguyễn Đình Toàn. Cả hai nhận định trên đều đúng, nếu chỉ nói về khía cạnh tài năng, nỗ lực cá nhân khi cố gắng làm mới văn chương Việt Nam. Nhưng bảo hai nhà văn nổi tiếng nói trên là thuộc nhóm tiểu thuyết mới, tôi muốn nói, như những người sáng tác theo quan điểm tiểu thuyết mới tại Pháp, điều này sợ chưa đủ sức thuyết phục.

 Lucien Goldmann, trong bài viết "Tiểu thuyết mới và Thực tại", in trong cuốn "Xã hội học về tiểu thuyết", cho thấy, trong khi nhiều nhà phê bình, và đa số công chúng thưởng ngoạn, nhìn tiểu thuyết mới, như là những kinh nghiệm hoàn toàn có tính hình thức, hay một toan tính chạy trốn thực tại xã hội, hai tác giả đại diện chính của trào lưu này là Nathalie Sarraute và Alain Robbe- Grillet, ngược lại, đã muốn nói với chúng ta rằng, tác phẩm của họ được sản sinh từ một cố gắng - càng chân xác, càng cơ bản chừng nào hay chừng đó - nắm bắt thực tại thời đại của chúng ta. Họ là mhững tác giả hiện thực cơ bản nhất, triệt để nhất trong số những nhà văn hiện thực Pháp, nếu chúng ta quan niệm chủ nghĩa hiện thực trong văn chương là sáng tạo bằng tưởng tượng ra một thế giới mà cơ cấu của nó tương ứng với cơ cấu thiết yếu của thực tại xã hội - một xã hội mà tiểu thuyết đã được viết ra từ trong lòng của nó. Một xã hội đã cưu mang, thai nghén ra tiểu thuyết. Và đây là giả thuyết của Goldmann: Trong các dạng văn học, tiểu thuyết là dạng liên can, tức thời nhất, và trực tiếp nhất, tới cơ cấu kinh tế, theo một nghĩa hẹp nhất của từ này. Tới những cơ cấu trao đổi và sản phẩm thị trường. Thực tại thời đại chúng ta cho thấy, nếu trước đây, con người là trung tâm vũ trụ, bây giờ đồ vật trở thành "thần vật". Liên hệ người-vật ngày càng nghiêng về phía đồ vật. Thế nhất quán mang tính cơ cấu "nhân vật-đồ vật" ngày càng biến đổi cùng với sự biến mất của nhân vật nhường chỗ cho đồ vật làm chủ. Từ đó, tiểu thuyết mới mang đủ thứ tên, phản-tiểu thuyết, phản-con người, phản-văn chương...

 Nhìn từ quan điểm đó, chúng ta không thể nào coi Nguyễn Đình Toàn và Dương Nghiễm Mậu là những nhà văn tiểu thuyết mới. Nhân vật của Dương Nghiễm Mậu là những con người có một ý thức sáng suốt đến chua xót về sự cô đơn, bất lực của mình trong một xã hội đang manh nha tan rã, cuối cùng lao vào những hành động "phá phách, nổi loạn", cố tìm một thái độ đạo đức bằng những hành xử vượt ra ngoài quan niệm đạo đức thông thường. Thế giới, khung cảnh truyện của ông "khô, đầy bụi", đầy "tóc rối", trong khi ở Nguyễn Đình Toàn, là một khí hậu ẩm, ướt, với những nhân vật hầu hết là nữ. Truyện của hai tác giả giống như hai mùa mưa nắng ở Miền Nam, trong khi chờ đợi cơn bão tố chiến tranh xóa sạch tất cả.

 Giả thuyết của Lucien Goldmann dựa vào lý thuyết nổi tiếng của Marx, trong Tư Bản Luận, lý thuyết về sự thờ phụng đồ vật, phương tiện phục vụ, tiện dụng, của xã hội Tây phương, tức xã hội tư bản hiện nay. G. Lukács có một từ rất hay, rất chính xác để gọi hiện tượng này là vật hóa (reification).

Cũng trong bài phỏng vấn kể trên, Nguyễn Xuân Hoàng cho biết, ông không "mặn" với cái món tiểu thuyết mới. Nhưng theo tôi, trong những tác phẩm đầu tay, trong cuốn Sinh Nhật chẳng hạn, ông đã không chấp nhận nhân vật tiểu thuyết như một con người có cá tính, có một đời sống tâm lý, sinh lý, có một hoàn cảnh xã hội đặc biệt... Ông chọn một con người không có cá tính, đại khái như vậy. Và như thế, vô hình chung ông đã chấp nhận, một cái gì đó, của tiểu thuyết mới, khi trào lưu này không thể nào quan niệm một thứ văn chương đồng hóa con người vào những tình cảm ỷ ôi, sướt mướt, con người như là một con vật bị "raped" (hãm hiếp) bởi thất tình, hỷ nộ ái ố...

 Tuy dựa vào lý thuyết Mác-xít để giải thích sự xuất hiện của trào lưu tiểu thuyết mới, như L. Goldmann đã làm, trên thực tế, ngay tại Pháp, và tại những nước Cộng Sản, trào lưu này đã không tránh khỏi những chỉ trích nặng nề là đã không có trách nhiệm (lack of commitment) với văn chương, lịch sử, với con người... "Một sự từ chối cái thực. Không thể hiện những mâu thuẫn trong xã hội tư bản. 'Trong mê cung' ('Dans le labyrinthé , của A. Robbe- Grillet) là cái quái gì nếu so với Việt Nam?" Sartre đã từng phát biểu, ông không thể đọc Robbe-Grillet trong một xứ sở kém phát triển. Câu nói của ông sau được ghi lại trong bài viết của Claude Simon, Orion aveugle, (Geneva, 1970, trang 106), trong bài nói chuyện của một thành viên tham dự một hội nghị văn chương bàn về nghĩa vụ xã hội của nhà văn, được tổ chức tại một xứ Mỹ Châu La Tinh: "Hình như đối với tôi, chúng ta hội họp ở đây để bàn về những vấn đề này (không phải những vấn đề mang tính hàn lâm), những vấn đề về sáng tạo văn chương mà những dân tộc bị áp bức chẳng có gì mắc mớ với chúng". "Nhóm" tiểu thuyết mới tại Việt Nam đã từng bị những người theo Cộng Sản, như Lữ Phương chẳng hạn, gọi là nhóm văn chương "viễn mơ". 

Người xưa nói, đừng đem thành bại luận anh hùng. Trong "cõi văn chương", tất cả những tác phẩm thành công đều là những kinh nghiệm về sự thất bại. Hoặc chính là sự thất bại.

"Hết thuốc chữa, chuyện anh có mặt trên trái đất này", Hamm nói với Clov trong Tàn Cuộc, Endgame (Beckett), hay như trong   Tiến lên Tàn Mạt, Worstward Ho (cũng của Beckett): "Hãy thua. Thua nữa. Thua cho bảnh." ("Fail. Fail again. Fail better.") Theo ông, đó là chức năng tuyệt vọng của người nghệ sĩ hiện đại, kẻ bị kết án phải trung thành với sự thất bại. 

Nhìn theo cách thế đó, tiểu thuyết mới và các tác giả của nó chính là một sự thất bại, như James Joyce, như Beckett, như Kafka... đã từng thất bại. 



Where Germans Make Peace with Their Dead
Làm hòa với người chết

Through a practice that is part therapy and part séance, children of war come to terms with their history.
http://www.newyorker.com/magazine/2016/09/12/familienaufstellung-germanys-group-therapy

*

Germany’s secrets run dark and deep. How can a people bent on silence for so long learn their true history? Illustration by Miguel Porlan

Nước Đức vẫn chưa tính sổ được với quá khứ Nazi.
Bài viết này đúng là nằm trong tinh thần của trang Tin Văn!
Lũ VC bịp hoài về hai cuộc chiến thần thánh, và bây giờ là lúc phải khui ra hết!
Nếu không, chỉ còn mỗi cửa tử
: Chỉ có tận thế mới kíu nổi Mít!
Bài viết này, cái tít của nó trên báo giấy là, Chuyện Ma, Ghost Stories.
Còn ở trang bìa thì là Hồn Ma Chiến Tranh của nước Đức, Germany's War Ghosts.
Và những hàng sous-titres, thì đúng là để trả lời câu mắng yêu một thuở nào của Sến, với Anh Cu Gấu, khi tình [TV & talawas] còn mặn nồng:
Sao mi cứ cay đắng hoài mãi như thế:
Nhiều gia đình Đức đã hằng tâm niệm, đừng nói cho con nít về quá khứ.
Và bây giờ họ
đối diện với THNM [trauma].
Personal History September 12, 2016 Issue
Where Germans Make Peace with Their Dead
Through a practice that is part therapy and part séance, children of war come to terms with their history.
By Burkhard Bilger

To my mother, the best evidence of this was a story she often told about her grandmother. In the spring of 1918, Luise was asleep one night in the upstairs bedroom of her farmhouse when she woke to the sound of footsteps outside. The village was deserted at that hour, her daughter and husband asleep. But she knew that shuffling gait and heavy footfall. It could only be Josef, her eldest son, home at last from the war in France. She lurched up in bed to greet him, then stopped and listened again, more intently this time. No. It wasn’t him after all. It was just his spirit come back to pay them a last visit. She lay down and shook her husband by the shoulder. “Jetzt isch de Josef gstorbe,” she told him, in her soft Black Forest dialect. “Now Josef has died.”

A week later, they received word that he’d fallen at Flanders—on the same day that his ghost had passed by.

Đọc cái mẩu trên, quái làm sao, GCC nhớ lại, cái khả năng "thấu thị", của chính Gấu, khi còn là 1 đứa bé!
Gấu đã kể ra 1 lần rồi, trong bài viết ngắn


Viết là Khiếp

http://www.tanvien.net/vietngan/vn_viet_la_khiep.html

     Tôi trở nên khiếp đảm...

Đêm 23 tháng Chạp, năm 1985, cùng lúc với ông Táo chầu trời, trên một chiếc tầu vượt biển sắp sửa chìm gần ngọn hải đăng ở cửa biển Vũng Tầu, có một ông già bị cậu thanh niên đứng kế bên lầm là người yêu của anh. Quá khiếp đảm trước cái chết có thể xẩy tới bất cứ lúc nào, cậu thanh niên điên cuồng vò đầu, vò tai người yêu, tức ông già, lảm nhảm những lời hoảng loạn. Tuy đang bận tâm vì một chuyện khác, ông già vẫn nhận ra, nước biển mặn, lạnh buốt, còn nước mắt của cậu thanh niên, mặn, nóng hổi, rát hằn một bên má. Những cột nước như từ trên trời đổ mãi. Con thuyền chúi sâu xuống khoảng không đen, sâu thẳm, rồi bị đẩy bắn lên cao, chót ngọn sóng. Ông già đang nhớ lại những lần chết trước đó.
Bẩy, tám tuổi, thấy bạn cùng lớp nhào xuống ao, bơi lội ào ào, ông nghĩ, ai cũng làm được. Và cứ thế lao xuống. May có người đứng ngay kế bên, nhìn thấy thằng bé sắp sửa chìm nghỉm, bèn nhảy vội xuống, kéo lên.
Khi đã hoàn hồn, đứng ngơ ngác trên bờ, cậu bé như cảm thấy, cậu biết trước tai nạn. Như thể, cậu đã trải qua một lần rồi, và lần này, chỉ là lập lại lần trước. Nó đã từng xẩy ra, trong một giấc mơ, có thể.
Cậu có cảm tưởng, anh bạn lớn tuổi đã "chờ", một sự kiện như vậy, sẽ xẩy ra, và anh ta sẽ can thiệp, đúng lúc.
Rõ rệt nhất là lần chơi bắn bi một mình. Nhà có một chiếc hòm [cái rương] lớn, chiếm cả một góc gian nhà chính, trên là bàn thờ ông bà, trong đựng lúa, đặt trên hai tấm mễ gỗ, hay ngựa gỗ, thấp. Người dân miền Bắc, từ xa xưa vẫn bị ám ảnh bởi những cơn lũ lụt, và những năm hạn hán, lúc nào cũng lo mất mùa, nên nhà nào cũng lo trữ lúa.
Hòn bi lăn tít vào gầm hòm. Cậu bò vào. Loay hoay cọ quậy, cả hai tấm ngựa gỗ, quá mục, cùng sập xuống.
Như sống lại giấc mơ, cậu xoài người ra. Chiếc hòm đè cậu bẹp dí, may nhờ hai chiếc mễ chia giùm sức nặng. Lần đó, ba hồn bẩy vía đi luôn, mấy người lớn bắt ăn mấy vắt cơm để thu hồi lại.
Lớn lên, cậu mất dần khả năng kỳ cục, và mơ hồ cảm nhận - không tính lần suýt bị bẹp dí - có một điều gì liên can đến "nước", trong những lần như vậy.
Như thể gia đình ông bị trù yểm, bởi nước.




Nhân viết về le Carré, có 1 cuốn phim mới ra lò, phỏng theo tiểu thuyết của ông, rất ăn khách, The Night Manager. GCC đang coi, OK lắm!

The Night Manager (TV Mini-Series 2016) - IMDb






*

http://harvardreview.fas.harvard.edu/?q=print-issues/harvard-review-49
http://harvardreview.fas.harvard.edu/?q=extracts/forget

Forget
Adrienne Kennedy
I met my white grandfather a few times.
of course he lived on the white side of town.
he sent his chauffeur who was black and his name was Austin
in a black car to

my grandmother’s house to get us.
my mother wanted my brother, herself, and me to walk
but he insisted.

we went to his house.
his white wife wanted us to go in the back
door,
but he insisted we come into the front.

full of contradictions,
he sent my mother and her half-sister to college,
bought them beautiful things

but still maintained the distance. they called him
by his surname and he never shared a meal with them.

we sat in his parlor twice.
he was slightly fascinated by my brother and me.
he said something like you all have northern accents.
he was interested in our schooling in Cleveland.
he was interested in the fact that people
said I was smart.

at that time the thirties and before the WAR
he owned a lot of the town

and had three children by black women.
my mother’s mother was fifteen, worked in the peach orchards.

like the South itself, he was an unfathomable.
mixture of complexities,
these are two generations of white men
removed

who went all the way to Africa to get SLAVES,
quite mad.

I was lucky enough to spend a day and evening in his
and his family’s house. built about 1860
where he was born . . . his father was the town’s first bank owner.

the house, white, wooden in weeping willow trees
down a long archway.

by 1940, when I visited, the house had one usable
room, the rest all boarded up
and was lived in by black COUSINS
of his Negro family.

despite her Atlanta Univ education and marrying a Morehouse man
and making a nice life in Cleveland,
my mother found it impossible to say her mother’s name.
and impossible to call her father by anything but his
surname.
she used to say to me when I was a child,
Adrienne, when I went to town to get the
mail, they would always say
here comes that little yellow bastard.


Bài essay “Smells”, Mùi, của Bei Dao, không cho đọc free, chắc là phải scan, rồi vừa dịch như "mồi", để viết về những mùi của xứ Bắc Kít, trong có mùi ốc nhồi.
Gọi là essay nhưng đúng là 1 thứ “ký”.
Bei Dao thường viết như thế, như lần viết về Kafka và Prague, ông lồng những cái đọc của mình về Kafka, về Prague, vào chuyến đi của ông tới thành phố này.
Cái thứ "ký" của bạn Khờ của Gấu thiếu chiều sâu, đọc, bạn ta chỉ viết
về những lần tới đâu thịt 1 em tới đó, rồi...  thôi.
Uổng thật. Anh dư sức để viết, sợ còn bảnh hơn cả Bei Dao, vì đằng sau anh có ít lắm là ba triệu người đã chết, thèm sống lại, và thèm đi như anh, và tất nhiên, bảnh hơn tác giả Kẻ Phản Thùng, nhiều lắm.
Gấu đọc anh kỹ lắm, hồi mới ra được hải ngoại!

Chớp được 1 câu trong Mùi, về Mùa Thu:
Tôi không chắc tại làm sao mà Mùa Thu thì lại thường được móc nối (associated) với nỗi buồn, tuy nhiên, cái này có thể
là do tựu trường: Tự do đầu hàng, freedom surrended

http://www.tanvien.net/new_daily_poetry/Kafka_Prague.html


KAFKA WAS BORN IN A building on the square of Prague's Old Town on July 3, I883. He moved several times, but never far from the city of his birth. His Hebrew teacher recalled him saying, "Here was my secondary school, over there in that building facing us was the university, and a little further to the left, my office. My whole life-" and he drew a few small circles with his finger "-is confined to this small circle."

The building where Kafka was born was destroyed by a great fire in I889. When it was rebuilt in 1902, only a part of it was preserved. In 1995, a bust of Kafka was set into the building's outer wall. A portent of the Prague Spring, Kafka was finally recognized by the Czech communist authorities, hailed as a "revolutionary critic of capitalist alienation."

In a letter to a friend, he wrote: "There is within everyone a devil which gnaws the nights to destruction, and that is neither good nor bad, rather, it is life: if you did not have it, you could not live. So what you curse in yourself is your life. This devil is the material (and a fundamentally wonderful one) which you have been given and which you must now make use of. . . . On the Charles Bridge in Prague, there is a relief under the statue of a saint, which tells your story. The saint is sloughing a field there and has harnessed a devil to the plough. Of course, the devil is still furious (hence the transitional stage; as long as the devil is not satisfied the victory is not complete), he bares his teeth, looks back at his master with a crooked, nasty expression and convulsively retracts his tail; nevertheless, he is submitted to the yoke. . . ."

Kafka ra đời tại một building ở quảng trường Cổ Thành Prague, ngày 3 Tháng Bẩy, 1883. Ông di chuyển vài lần, nhưng không bao giờ ra khỏi thành phố. Ông thầy dạy tiếng Hebrew còn nhớ là vị học trò của mình có lần nói, “Đây là ngôi trường trung học của tôi, ở chỗ kia kìa, trong cái toà building đối diện chúng ta, là đại học, xa tí nữa, về phía trái, là văn phòng của tôi. Trọn đời tôi” – ông học trò khua vòng vòng ngón tay – “thì đóng khung ở trong cái vòng tròn nho nhỏ này”.

Tòa nhà nơi Kafka ra đời, bị một trận cháy lớn tiêu hủy vào năm 1889. Khi xây cất lại vào năm 1902, chỉ 1 phần được giữ lại. Vào năm 1995, một bức tượng nửa người của ông được dựng lên trong toà nhà, tường phía ngoài. Một điềm triệu của Mùa Xuân Prague, Kafka sau cùng được nhà cầm quyền CS Czech công nhận, như là một “nhà phê bình cách mạng về sự tha hóa của chế độ tư bản”.

Trong 1 lá thư cho bạn, Kafka viết, luần quần trong bất cứ 1 ai, là một con quỉ, nó gậm đêm, đến tang thương, đến hủy hoại, và điều này, đếch VC, và cũng đếch Ngụy, hay đúng hơn, đời Mít là như thế:
Nếu bạn đếch phải như thế, thì bạn đếch phải là Mít!
Bạn không thể sống, đúng hơn.

Còn quỉ này là… hàng – như trong cái ý, Nam Kít nhận họ, Bắc Kít nhận hàng – và bởi thế, hàng này mới thật là tuyệt vời, "ơi Thi ơi Thi ơi", một em Bắc Kít chẳng đã từng nghe, đến vãi lệ, 1 giọng Nam Kít, phát ra từ cặp loa Akai, tặng phẩm-chiến lợi phẩm của cuộc ăn cướp - Bạn ăn cướp và bây giờ bạn phải sử dụng nó, làm cho nó trở thành có ích… Trên cây cầu Charles Bridge ở Prague, có một cái bệ, bên dưới 1 bức tượng thánh, nó kể câu chuyện của bạn. Vị thánh trầm mình xuống một cánh bùn, kéo theo với ông một con quỉ. Lẽ dĩ nhiên, con quỉ đếch hài lòng, và tỏ ra hết sức giận dữ (và đây là ý nghĩa của ẩn dụ, một khi mà con quỉ cuộc chiến Mít chưa hài lòng, dù có dâng hết biển đảo cho nó, thì chiến thắng đỉnh cao vưỡn chưa hoàn tất), nó nhe răng, tính ngoạm lại sư phụ của nó 1 phát!
*

Bắc Đảo dùng từ như thể ông ta vật lộn đời mình với chúng [Ông] kiếm ra đường, để nói với tất cả chúng ta.

NYRB

Thiên tài Bắc Đảo và cơn hăm dọa của ông ta, là ở trong cái sự liền lạc, không mối nối, không sứt mẻ, nhưng thật là hài hòa, khi thực hiện cuộc hôn nhân giữa ẩn dụ và chính trị: ông là 1 chiến sĩ, 1 tên du kích, đúng hơn, trong 1 cuộc chiến đấu ở mức ngôn ngữ.

Chicago Tribune

* *
For those who have never experienced defeat, destruction, or exile, there is an undeniable charm to loss
Với những kẻ chưa từng kinh nghiệm thất bại, huỷ diệt, hay lưu vong, có 1 sự quyến rũ không thể nào chối cãi được về mất mát.
Lũ Ngụy, chỉ đến khi vô tù VC, thì mới hiểu được, chúng đánh mất, làm mất Thiên Đường Miền Nam!

La nostalgie de la boue is alien to history’s victims.
Nỗi nhớ bùn thì xa lạ, với những nạn nhân của lịch sử.


V/v Tận thế là đây:

Sartre (Situations, I) nhắc tới "ý hướng tính", coi đây là tư tưởng cơ bản của hiện tượng luận: "Husserl đã tái tạo dựng (réinstaller) sự ghê rợn và sự quyến rũ vào trong những sự vật. Ông tái tạo thế giới của những nghệ sĩ và của những nhà tiên tri: Ghê sợ, thù nghịch, nguy hiểm trùng trùng, với những bến cảng, nơi trú ẩn của ân sủng và tình yêu."
Tôi đã lầm, khi nghĩ, chẳng bao giờ người ta lại được đọc những trang sách tuyệt vời, về Hà-nội.
Có thể là do một câu thơ và viễn ảnh khủng khiếp nó gây ra ở nơi tôi.
"Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ" (Trần Dần), câu thơ như một "Apocalypse Now" (Tận Thế Là Đây), không phải chỉ riêng cho Hà-nội. Làm sao mà thi sĩ lại nhìn thấy suốt cuộc chiến sau đó, không phải chiến thắng, mà huỷ diệt, một thành phố, rồi cùng với nó, là biểu tượng của cả một dân tộc ?

Liệu Mít thoát “Tận Thế Là Đây”?

Một câu hỏi như thế, vô nghĩa, mà phải đặt ngược lại:

Chỉ Tận Thế mới cứu nổi Mít!

Kundera, trong Gặp Gỡ, có viết về cái gọi là Tận Thế Là Đây, qua kinh nghiệm nghe nhạc sến, khi đi tù VC, của....  GCC.

The Total Rejection of Heritage, or Iannis Xenakis (a text published in 1980, with two interventions from 2008)

1

IT WAS TWO OR THREE YEARS AFTER THE RUSSIAN INVA-sion of Czechoslovakia. I fell in love with the music of Edgard Varese and Iannis Xenakis.
    I wonder why. Out of avant-garde snobbery? In the solitary life I was living at the time, snobbery would have made no sense. Out of an expert's interest? I might, with some effort, understand a piece by Bach, but faced with Xenakis's music I was completely unprepared, unschooled, uninitiated, an utterly naive listener. And yet I felt genuine pleasure at hearing his works, and I would listen avidly. I needed them: they brought me some strange consolation.
    Yes, the word slipped out: I found consolation in Xenakis's music. I learned to love it during the darkest time of my life, and that of my homeland.
    But why did I seek consolation in Xenakis rather than in the patriotic music of Smetana, where I could have found the illusion of perennial life for my country, which had just gotten a death sentence?
    The disenchantment brought on by the catastrophe that had struck my country (a catastrophe whose consequences will be felt for centuries) was not only about political events: the disenchantment was about man as man, man with his cruelty but also with the alibi he uses to disguise that cruelty, man always quick to justify his barbarity by his feelings. I was seeing that sentimental agitation (in private life as well as public) is not antithetical to brutality, but rather, merges with it, is part and parcel of it ....
(1980)
KUNDERA: ENCOUNTER

Note: Bài này tuyệt lắm. Đúng là thứ kinh nghiệm GCC đã từng trải qua khi đi tù VC, thay vì 10 ngày lương thực, ăn hết là được về đời, thì là 1 nhúm nhạc sến, qua suốt 9 cửa địa ngục.


-Tức là ông từng kiêu ngạo?
- Có chứ. Ai chẳng tham sân si, tôi cũng ngu si vậy. Con người là thế. Tôi nhiều thói hư tật xấu lắm chứ. Tôi cũng đủ trò, như tất cả mọi người. Nhưng mình là người viết lách, có lẽ do viết lách nên giữ được cho tôi có chừng mực.
NHT

GCC nghĩ khác. Kiêu ngạo là phẩm giá, đức hạnh của nhà văn. Cao Hành Kiện phán, tôi không đọc cả 1 lũ nhà văn Tẫu cùng thời. Nabokov còn ghê gớm hơn nhiều. Nhờ kiêu ngạo mà nhà văn giữ được phẩm giá của mình, rõ nhất là, trong cái việc tách mình ra khỏi thời của mình. Nhà văn là nhà nước trong nhà nước, như Solzhenitsyn đã từng phán, và câu này đúng với những người như ông, ở 1 nước độc tài, như xứ Mít hiện nay của NHT
Thiệp, theo Gấu càng về già càng hỏng. Do không đọc, phần lớn. Muốn đọc cũng không được.


Co ai "noi nang" chi may bai cua Weil khg vay?
Khg biet co ai kien nhan doc?

Phúc đáp:
Cần gì ai đọc!
Tks. Take care. NQT
*
Date: Tuesday, March 31, 2009, 5:05 PM
Bac viet phach loi nhu the nay - ky qua...
*
Thi phai phach loi nhu vay, gia roi.
*
Gia roi phai hien ma chet!

Đa tạ.
Nhưng, phách lối, còn thua xa thầy S: Ta là bọ chét!


Đọc/Viết mỗi ngày
Ha Le liked this.

Báo #NaUy #Aftenposten đã chỉ trích #Facebook vì đã xóa hình ảnh hậu quả bom napalm ném xuống #ViệtNam.



Note: Bỏ, đúng.
Chính Kim Phúc là người khiến FB quyết định như vậy, theo GCC, khi Bà nói, tôi chạy trốn suốt đời, bức hình đó.
Bức hình đã làm xong nhiệm vụ lịch sử của nó rồi. Đã đến lúc giải phóng nó ra khỏi gánh nặng đó. Trong cuộc chiến Bắc Kít phạm vô vàn tội ác, đã đến lúc phải khui ra, vì rõ ràng là hậu quả của những tội ác của chúng là 1 xứ Mít đang đi vào tận thế như hiện nay
...
NQT

*

Tôi muốn chạy trốn bức hình, chạy trốn đứa con nít trong bức hình đó, nhưng nó...  dai như điả

http://tempsreel.nouvelobs.com/en-direct/a-chaud/27539-facebook-facebook-revient-decision-censurer-celebre-photo.html

FB quyết định lại về bức hình KP

"Nous avons décidé de rétablir l'image sur Facebook là où nous sommes au courant qu'elle a été retirée", a indiqué un porte-parole du groupe, disant tenir compte des réactions de sa communauté d'utilisateurs et du "statut d'image emblématique et d'importance historique" du cliché incriminé.


*

John Gray

The Dialectical Man
Karl Marx: Greatness and Illusion
By Gareth Stedman Jones
Cái tít ở bìa mới thú: Full Marx

https://literaryreview.co.uk/the-dialectical-man

Tin Văn sẽ dịch/giới thiệu bài viết này, bonus kỷ niệm thời mới lớn mê Marx. Phải đến khi qua được trại tị nạn, đọc bài viết của Tolstaya, như đã từng lèm bèm nhiều lần, Gấu mới hỡi ơi, Bắc Kít chỉ lợi dụng chủ nghĩa Marx, như “ngọn cờ chính nghĩa”, nhằm che giấu Cái Độc, Cái Ác tầng tầng lớp lớp, trong suốt 4 ngàn năm sợ đói, sợ Tẫu của nó

In 1981, Leszek Kolakowski began the introduction to the first volume of his magisterial trilogy Main Currents of Marxism with the statement ‘Karl Marx was a German philosopher.’ If we add ‘who lived and worked in the nineteenth century’, this remains the perfect truism on the subject. The grand intellectual construction that later came to be known as Marxism has only a tenuous and oblique connection with Marx’s own efforts to understand and respond to the events of his time. Episodic and disjointed because of his uncertain life as a penurious émigré, Marx’s writings never added up to a unified world-view. Even his largest theoretical claims – those about capitalism made in The Communist Manifesto (1848), co-authored with Engels, for example – were reactions to particular historical circumstances. Reading Marx as the architect of Marxism can only lead to misunderstanding the man and his thought.
    This was the message of Jonathan Sperber’s Karl Marx: A Nineteenth-Century Life (2013), a methodical demolition of some of the myths surrounding Marx and his thought. An unfamiliar picture emerges from Sperber’s well-documented account. At points in the 1840s Marx’s political views had something in common with those of 20th-century anti-communists. In 1842 he wrote that as a result of the spread of communist ideas ‘our once blossoming commercial cities are no longer flourishing’, while in 1848 he rejected the idea of revolutionary dictatorship by a single class as ‘nonsense’. Partly as a result of the influence of Engels, Marx has often been seen as an admirer of Darwin. But in fact Marx disliked Darwin’s theory of natural selection because it left human progress ‘purely accidental’, preferring the work of the forgotten French ethnographer Pierre Trémaux, who argued that racial differences have ‘a natural basis’ in biology and geology – a common view at the time. Intellectually Marx was a prototypical 19th-century figure, absorbing from French positivist thinkers the idea that traditional religions were fading away and industrialism becoming better organised and ultimately more harmonious. These aspects of his thinking were at odds with others shaped by Hegelian philosophy and German radical humanism. Rather than being an exercise in system-building, Marx’s shifting and at times contradictory theoretical views were closely related to the political struggles in which he was actively involved.
    Gareth Stedman Jones shares with Sperber the objective of representing Marx as a 19th-century figure and covers much of the same ground. But the picture of Marx that emerges in Stedman Jones’s rich and deeply researched book is interestingly different. He is blunter than Sperber in discussing Marx’s complicated relationship with his Jewish ancestry. According to Marx, Stedman Jones writes, Judaism ‘despised nature, was uninterested in art or love except for the financial value they might contain, while its interest in law was primarily in its circumvention’. Despite the efforts of his father and brother, Marx ‘unhesitatingly adopted Napoléon’s secular equation between Judaism and usury. Not only did he attack the supposed monotheism of the Jew in the most insulting terms derived from Voltaire as “a polytheism of many needs”, but also went on to attack the Talmud as “the relation of the world of self-interest to the laws governing that world”.’ Marx’s essay on The Jewish Question (1843–4) contains many such ‘catty anti-Semitic jibes’.
The most original section of Stedman Jones’s account has to do with Marx’s view of village communities. Marx is commonly supposed to have thought that villages embodied an archaic form of life that would have no role in shaping socialism, and it is true that this view dominates his writings from the 1840s up to the publication of Capital in 1867. Throughout these years Marx was strongly modernist in his thinking, envisioning socialism as a successor to capitalism that would be based on the aspirations of the emerging industrial working class. From 1868 onwards, though, he began to look to traditional forms of communal agriculture as embodiments of an egalitarian type of community. From this point of view, the Russian mir – the communal ownership and periodic redivision of land in the Russian village community – provided an example of future regeneration by building on survivals from ancient and even primitive societies. One of the inspirations for socialism came not from visions of the future but vestiges of the past.
    In the case of Russia, this placed Marx close to thinkers who promoted agrarian populism, such as Alexander Herzen. In a draft of a letter written in 1881, Marx looked to the Russian peasant commune as the germ of a post-capitalist economy: ‘if the revolution comes at the opportune moment, if it concentrates all its forces to allow the rural commune its full scope, the latter will soon develop as an element of regeneration in Russian society and an element of superiority over the countries enslaved by the capitalist system.’ Marx’s social-democratic Russian disciples believed socialism would only be possible after a longish period of capitalist development, but the master scornfully repudiated these ‘Russian “Marxists”’ as holding views ‘diametrically opposed’ to his own. As he saw it, a socialist revolution was needed before capitalism destroyed the village commune.
    Marx’s views on this and many other matters have little in common with what later came to be understood as ‘Marxism’, but this is not because Marx’s work was traduced. Through his collaboration with Engels, Marx was implicated in the spread of a version of his ideas that differed significantly from his own understanding of them. Financially dependent on his collaborator, it was difficult for him to be open about the areas in which the two disagreed. Marx never endorsed Engels’s efforts to meld socialism with Darwinism, but neither did he ever clearly dissociate himself from them.
    What remains of Marx’s thought is his insight into the emergence and consequences of a global market, which Stedman Jones summarises forcefully. Marx, he writes:
was the first to chart the staggering transformation produced in less than a century by the emergence of a world market and the unleashing of the unparalleled productive powers of modern industry. He also delineated the endlessly inchoate, incessantly restless and unfinished character of modern capitalism as a phenomenon. He emphasized its inherent tendency to invent new needs and the means to satisfy them, its subversion of all inherited cultural practices and beliefs, its disregard of all boundaries, whether sacred or secular, its destabilization of every hallowed hierarchy, whether of ruler and ruled, man and woman or parent and child, its turning of everything into an object for sale.
    It is a prescient glimpse of our world. But along with many other thinkers of the 19th century (and the 20th), Marx failed to foresee how older forms of life would be reinvigorated even as the world was being transformed. While village life has not been renewed, religion and nationalism have mutated into new and at times strikingly malignant forms. Capitalism may be a revolutionary force, as Marx believed. But for that very reason it cannot help creating powerful forces that resist and sometimes defeat it.
    Stedman Jones describes Marx’s view of the village community as ‘a nineteenth century phantasm’, and in this he is surely right. There was no more reason to think a new socialist society would develop from peasant communes than from the industrial working class. Both visions of a post-capitalist society were illusions. The strength of Marx’s thought lies in his analysis of capitalism itself, whose enormous productive and disruptive potential he understood better than most thinkers in his time or ours.


http://www.magazine-litteraire.com/rencontre/amos-oz-%C2%AB-judas-cru-en-j%C3%A9sus-%C2%BB

Amos Oz: « Judas a cru en Jésus »
Le mercredi 7 septembre 2016
Ju Đà tin vào Chúa

Je crois aux compromis (…) et le contraire du compromis, ce n’est pas l’idéal, l’idéalisme, mais c’est le fanatisme et la mort. »
Tôi tin vào thỏa hiệp... và ngược lại thỏa hiệp, không phải là lý tưởng, mà là cuồng tín, là
cái chết
Thảo nào lũ Mít hải ngoại tên nào cũng bò về!
Sến chẳng đã từng mắng iêu GCC, sao mi cay đắng hoài như thế?



For those who have never experienced defeat, destruction, or exile, there is an undeniable charm to loss
Với những kẻ chưa từng kinh nghiệm thất bại, huỷ diệt, hay lưu vong, có 1 sự quyến rũ không thể nào chối cãi được về mất mát.
Lũ Ngụy, chỉ đến khi vô tù VC, thì mới hiểu được, chúng đánh mất, làm mất Thiên Đường Miền Nam!

La nostalgie de la boue is alien to history’s victims.
Nỗi nhớ bùn thì xa lạ, với những nạn nhân của lịch sử.

Bếp lửa trong văn chương  ( Nguyễn Quốc Trụ)

V/v Tận thế là đây:

Sartre (Situations, I) nhắc tới "ý hướng tính", coi đây là tư tưởng cơ bản của hiện tượng luận: "Husserl đã tái tạo dựng (réinstaller) sự ghê rợn và sự quyến rũ vào trong những sự vật. Ông tái tạo thế giới của những nghệ sĩ và của những nhà tiên tri: Ghê sợ, thù nghịch, nguy hiểm trùng trùng, với những bến cảng, nơi trú ẩn của ân sủng và tình yêu."
Tôi đã lầm, khi nghĩ, chẳng bao giờ người ta lại được đọc những trang sách tuyệt vời, về Hà-nội.
Có thể là do một câu thơ và viễn ảnh khủng khiếp nó gây ra ở nơi tôi.
"Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ" (Trần Dần), câu thơ như một "Apocalypse Now" (Tận Thế Là Đây), không phải chỉ riêng cho Hà-nội. Làm sao mà thi sĩ lại nhìn thấy suốt cuộc chiến sau đó, không phải chiến thắng, mà huỷ diệt, một thành phố, rồi cùng với nó, là biểu tượng của cả một dân tộc ?

Liệu Mít thoát “Tận Thế Là Đây”?

Một câu hỏi như thế, vô nghĩa, mà phải đặt ngược lại:

Chỉ Tận Thế mới cứu nổi Mít!

Kundera, trong Gặp Gỡ, có viết về cái gọi là Tận Thế Là Đây, qua kinh nghiệm nghe nhạc sến, khi đi tù VC, của....  GCC.

The Total Rejection of Heritage, or Iannis Xenakis (a text published in 1980, with two interventions from 2008)

1

IT WAS TWO OR THREE YEARS AFTER THE RUSSIAN INVA-sion of Czechoslovakia. I fell in love with the music of Edgard Varese and Iannis Xenakis.
    I wonder why. Out of avant-garde snobbery? In the solitary life I was living at the time, snobbery would have made no sense. Out of an expert's interest? I might, with some effort, understand a piece by Bach, but faced with Xenakis's music I was completely unprepared, unschooled, uninitiated, an utterly naive listener. And yet I felt genuine pleasure at hearing his works, and I would listen avidly. I needed them: they brought me some strange consolation.
    Yes, the word slipped out: I found consolation in Xenakis's music. I learned to love it during the darkest time of my life, and that of my homeland.
    But why did I seek consolation in Xenakis rather than in the patriotic music of Smetana, where I could have found the illusion of perennial life for my country, which had just gotten a death sentence?
    The disenchantment brought on by the catastrophe that had struck my country (a catastrophe whose consequences will be felt for centuries) was not only about political events: the disenchantment was about man as man, man with his cruelty but also with the alibi he uses to disguise that cruelty, man always quick to justify his barbarity by his feelings. I was seeing that sentimental agitation (in private life as well as public) is not antithetical to brutality, but rather, merges with it, is part and parcel of it ....
(1980)
KUNDERA: ENCOUNTER

Note: Bài này tuyệt lắm. Đúng là thứ kinh nghiệm GCC đã từng trải qua khi đi tù VC, thay vì 10 ngày lương thực, ăn hết là được về đời, thì là 1 nhúm nhạc sến, qua suốt 9 cửa địa ngục.

http://nhilinhblog.blogspot.ca/2016/09/nhung-tro-lai.html#more

càng ngày, tôi càng thấy thực sự phải coi Phan Khôi là "âm chuẩn" của một thời: đúng thế, Phạm Quỳnh có tư cách học trò chứ không có tư cách học giả, cái học của Phạm Quỳnh là cái học kiểu Trương Vĩnh Ký, mà ta có thể coi là một truyền thống không nhỏ của nửa cuối thế kỷ 19 và đoạn đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam (về Trương Vĩnh Ký, ta sẽ nói kỹ sau); trong khi, Phan Khôi và các trí thức thế hệ tiếp theo coi trọng thực học, và nhất là tác động của học thuật để làm thay đổi xã hội


GCC nghĩ, ngược lại.

Ở đây, là cuộc đối đầu lớn hơn nhiều, giữa, Cái Ác Nazi mà đỉnh cao của nó là Lò Thiêu, và, nhờ sống sót nó, nên Âu Châu, trong có Tẩy,
trị được nó, nhờ vậy thoát Quỉ Đỏ, và Cái Ác Á Châu, Cái Ác Bắc Kít, cho đến bây giờ, chưa thuốc chủng, và chỉ Tận Thế mới cứu nổi xứ Mít, là vậy.
Ở đây, còn vọng lên câu, Đông là Đông, Tây là Tây.
Cái đám Bắc Kít đã từng mê Liên Xô, cho đến giờ này vẫn chửi Tây Phương, là cũng từ những mầm ác này mà ra.
GCC đã từng lèm bèm,
Xứ Mít chết, đúng vào lúc Bác Hồ trốn thoát Cớm Tẩy, ở Paris, qua được Moscow, thoát cú thanh trừng của Xì và được phái về Trung Quốc hoạt động trong cái gọi Đông Phương Vụ cái con mẹ gì đó, tháng tháng lãnh lương Cớm Đệ Tam, tối ngủ Xẩm Tầu Tăng Tuyết Nghi [?]....
Đừng nghĩ đây là do GCC phịa ra, mà đúng là lịch sử nó phải như thế.
Cuốn Ngôi Mộ của Kis viết về cú này. Bóng Đêm của Koestler cũ
ng vậy, bởi thế mà GCC tin rằng chỉ có giả tưởng mới cưu mang được sự thực xứ Mít.

Đâu có phải "vô tư",
vào những giây phút cuối cùng của đời mình, bị VC dùng đá đập cho tới chết, vì tiếc 1 viên đạn, cho tên Việt Gian, Phạm Quỳnh vẫn phán, không có thằng Tẩy, là thằng Mít chết.
Ở Phan Khôi, vẫn có cái tiểu khí - vết thương hình chữ S -
mà sau này,VP, có.
Khi GCC gọi VP nhà văn Bình Định, Viên Linh thú quá, phán, đúng quá, là vậy.
Phạm Quỳnh không có nỗi đau hình chữ S.

Bài thơ của
Szymborska dưới đây, đúng là bông hoa tưởng niệm PQ, khi ông bị VC dùng đá đập, cho tới chết:

Khi một người nào đó đang còn sống, chết kiểu như trên
Máu tuôn ra từ mọi cú liếm.


GREEK STATUE

With the help of people and the other elements
time hasn't done a bad job on it.
It first removed the nose, then the genitalia,
next, one by one, the toes and fingers,
over the years the arms, one after the other,
the left thigh, the right,
the shoulders, hips, head, and buttocks,
and whatever dropped off has since fallen to pieces,
to rubble, to gravel, to sand.

When someone living dies that way
blood flows at every blow.

But marble statues die white
and not always completely.

From the one under discussion only the torso lingers
and it's like a breath held with great effort,
since now it must
draw
to itself
all the grace and gravity
of what was lost.

And it does,
for now it does,
it does and it dazzles,
it dazzles and endures-
Time likewise merits some applause here,
since it stopped work early,
and left some for later.

Wislawa Szymborska: Here

Tượng Hy Lạp

Với sự giúp đỡ của con người và những yếu tố khác
Thời gian đã làm được một việc không tệ ở đây.
Trước tiên, nó liếm cái mũi, rồi tới bộ đồ lòng
Tiếp, từng cái một, ngón chân, ngón tay
Theo năm tháng, những cánh tay, cái này tới cái kia
Bắp đùi trái, phải
Vai, hông, đầu, mông đít,
Và bất cứ cái gì rời ra,
là kể từ đó, trở thành miểng,
thành sỏi, đá, thành cát.

Khi một người nào đó đang còn sống, chết kiểu như trên
Máu tuôn ra từ mọi cú liếm.

Nhưng tượng đá chết trắng
Và không phải luôn luôn trọn vẹn

Từ cái chết đang được bàn tới ở đây,
Còn một nửa,
Còn bức tượng bán thân
Cứ như thể, mọi hơi thở, cố níu kéo
Bởi vì kể từ bây giờ
Nó phải níu vào chính nó
tất cả ân sủng và trọng lực (1)
cái phần đã bị liếm mất

Và nó làm được
Kể từ giờ này nó làm được
Và nó chói lòa,
Nó chói loà, và nó kéo dài, nó tồn tại –
Thời gian, như thế, thì cũng đáng để mà vỗ tay khen 1 phát ỏ đây,
Kể từ khi mà nó ngưng cái việc liếm, để mai tính, mốt tính, cái phần còn lại.

(1)

Chắc là thuổng hai từ này của Simone Weil.
Bà này, “bạn quí” của Milosz, mà Milosz thì là “đệ tử” của Weil!
Bài thơ quá tuyệt, nhưng bản dịch của GCC chưa tới, thực sự là vậy.
Không làm sao mà nói lên được cái ý ân sủng và trọng lực!

NQT


* *

Hội chứng Bartleby

Tính bỏ dziết, Melville bèn tưởng tượng ra 1 anh chàng Bartleby, chấp nhận thách đố im lặng và hư vô, bằng cách chui vô 1 căn phòng vắng mặt với mọi người và với chính mình. Tôi chọn đừng làm bất cứ cái gì

*

HERMAN MELVILLE: Le maudit, tên trời đánh thánh vật!

Đừng, đừng, chẳng bõ, chẳng đáng:

Un lunatique du Non

Pour Enrique Vila-Matas, le modèle du personnage de Bartleby serait à chercher du côté de son créateur lui-même. II voit en Melville un “lunatique du non”, qui dans sa vie comme dans son oeuvre, préférait ne pas.


Herman Melville's reticent scrivener is the ideal symbol for this new wave of passive protests as well as for the original occupy Gezi events

Đọc, thì bèn nhớ tới bài viết của Enrique Vila-Matas, trong số ML, về Melville. TV sẽ chuyển ngữ bài này. Tuyệt lắm. Nó làm GCC nhớ tới em Oanh, cô học trò của Kiệt, trong Một Chủ Nhật Khác, khi em đề nghị, bỏ hết, lẽo đẽo theo Thầy:

Đừng đừng, chẳng bõ, chẳng đáng!

Liệu Lỗ Bình Sơn, đã có lần trả lời Đảo Xa, như trên?

*



*
For those who have never experienced defeat, destruction, or exile, there is an undeniable charm to loss
Với những kẻ chưa từng kinh nghiệm thất bại, huỷ diệt, hay lưu vong, có 1 sự quyến rũ không thể nào chối cãi được về mất mát.
Lũ Ngụy, chỉ đến khi vô tù VC, thì mới hiểu được, chúng đánh mất, làm mất Thiên Đường Miền Nam!

La nostalgie de la boue is alien to history’s victims.
Nỗi nhớ bùn thì xa lạ, với những nạn nhân của lịch sử.

Bếp lửa trong văn chương  ( Nguyễn Quốc Trụ)

V/v Tận thế là đây:

Sartre (Situations, I) nhắc tới "ý hướng tính", coi đây là tư tưởng cơ bản của hiện tượng luận: "Husserl đã tái tạo dựng (réinstaller) sự ghê rợn và sự quyến rũ vào trong những sự vật. Ông tái tạo thế giới của những nghệ sĩ và của những nhà tiên tri: Ghê sợ, thù nghịch, nguy hiểm trùng trùng, với những bến cảng, nơi trú ẩn của ân sủng và tình yêu."
Tôi đã lầm, khi nghĩ, chẳng bao giờ người ta lại được đọc những trang sách tuyệt vời, về Hà-nội.
Có thể là do một câu thơ và viễn ảnh khủng khiếp nó gây ra ở nơi tôi.
"Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ" (Trần Dần), câu thơ như một "Apocalypse Now" (Tận Thế Là Đây), không phải chỉ riêng cho Hà-nội. Làm sao mà thi sĩ lại nhìn thấy suốt cuộc chiến sau đó, không phải chiến thắng, mà huỷ diệt, một thành phố, rồi cùng với nó, là biểu tượng của cả một dân tộc ?

Liệu Mít thoát “Tận Thế Là Đây”?

Một câu hỏi như thế, vô nghĩa, mà phải đặt ngược lại:

Chỉ Tận Thế mới cứu nổi Mít!

Kundera, trong Gặp Gỡ, có viết về cái gọi là Tận Thế Là Đây, qua kinh nghiệm nghe nhạc sến, khi đi tù VC, của....  GCC.

The Total Rejection of Heritage, or Iannis Xenakis (a text published in 1980, with two interventions from 2008)

1

IT WAS TWO OR THREE YEARS AFTER THE RUSSIAN INVA-sion of Czechoslovakia. I fell in love with the music of Edgard Varese and Iannis Xenakis.
    I wonder why. Out of avant-garde snobbery? In the solitary life I was living at the time, snobbery would have made no sense. Out of an expert's interest? I might, with some effort, understand a piece by Bach, but faced with Xenakis's music I was completely unprepared, unschooled, uninitiated, an utterly naive listener. And yet I felt genuine pleasure at hearing his works, and I would listen avidly. I needed them: they brought me some strange consolation.
    Yes, the word slipped out: I found consolation in Xenakis's music. I learned to love it during the darkest time of my life, and that of my homeland.
    But why did I seek consolation in Xenakis rather than in the patriotic music of Smetana, where I could have found the illusion of perennial life for my country, which had just gotten a death sentence?
    The disenchantment brought on by the catastrophe that had struck my country (a catastrophe whose consequences will be felt for centuries) was not only about political events: the disenchantment was about man as man, man with his cruelty but also with the alibi he uses to disguise that cruelty, man always quick to justify his barbarity by his feelings. I was seeing that sentimental agitation (in private life as well as public) is not antithetical to brutality, but rather, merges with it, is part and parcel of it ....
(1980)
KUNDERA: ENCOUNTER

http://www.newyorker.com/magazine/2010/03/01/preachers-warn

Preachers Warn

This peaceful world of ours is ready for destruction-
And still the sun shines, the sparrows come
Each morning to the bakery for crumbs.
Next door, two men deliver a bed for a pair of newlyweds
And stop to admire a bicycle chained to a parking meter.
Its owner is making lunch for his ailing grandmother.
He heats the soup and serves it to her in a bowl.

The windows are open, there's a warm breeze.
The young trees on our street are delirious to have leaves.
Italian opera is on the radio, the volume too high.
Brevi e tristi giorni visse, a baritone sings.
Everyone up and down our block can hear him.
Something about the days that remain for us to enjoy
Being few and sad. Not today, Maestro Verdi!

At the hairdresser's a girl leaps out of a chair,
Her blond hair bouncing off her bare shoulders
As she runs out the door in her high heels.
"I must be off," says the handsome boy to his grandmother.
His bicycle is where he left it.
He rides it casually through the heavy traffic
His white shirttails fluttering behind him
Long after everyone else has come to a sudden stop.

Charles Simic: Master of Disguises 

Thầy tu cảnh báo

Cái thế giới hòa bường này của chúng ta thì đã sẵn sàng cho sự huỷ diệt –
Tuy nhiên mặt trời thì vưỡn bò lên, lũ sẻ vưỡn tới
Mỗi sáng, kiếm mẩu vụn ở lò bánh mì.
Nhà kế bên, hai người đàn ông đem giường tới cho 1 cặp mới cưới
Cả hai đấng bèn ngưng lại, để chiêm ngưỡng một chiếc xe đạp
Xiềng vô cái cột đồng hồ tính tiền ở chỗ đậu xe.
Chủ của nó đang bận làm bữa trưa cho người bà bịnh
Anh ta hâm nóng cháo, và mang tới giường cho người bà trong 1 cái tô.

Cửa sổ mở, gió ấm.
Những cây con, ở con phố chúng ta,
Sướng điên lên vì bắt đầu ra lá.
Nhạc opera Ý từ chiếc la dô, âm thanh lớn quá
Brevi e tristi giorni vise, một giọng baritone [nam trung] ư ử
Mọi người lên và xuống khu nhà chúng ta thì đều có thể nghe.
Một điều gì đó, về những ngày tàn, cho chúng ta hưởng
Tí ti, và buồn. Không phải bữa nay, Maestro Verdi!

Tại tiệm làm tóc, một cô gái nhổm ra khỏi ghế ngồi
Tóc nâu, xỏa xuống đôi vai trần
Cô chạy ra khỏi tiệm,
Hai gót chân mới cao làm sao, hà hà!
“Con phải đi đây”, cậu trai đẹp trai nói với người bà.
Chiếc xe đạp thì vẫn ở chỗ cũ.
Anh ta đạp xe ngù ngờ qua con phố đầy xe cộ
Đuôi áo sơ mi ve vảy ở đằng sau anh ta
Thật mãi lâu sau đó, mọi người,
Ai thì cũng tới 1 điểm ngừng bất thần.

Poetry and Utopia
Charles Simic
Thơ & Không Tưởng

Only for the sake of the hopeless ones have we been given hope.
Walter Benjamin: Illuminations
Chỉ vì những kẻ vô hy vọng mà chúng ta được ban cho hy vọng

Thơ Simic, sau 1977 tẩm chất “blue” của jazz, ["blue không xanh mà blue đen", TTT], hay là những nốt nhạc “bent”… Theo năm tháng, ông cố tìm một nguồn hứng khởi mới, bằng cách đọc triết, đọc Heidegger (thí dụ Nguồn gốc của nghệ phẩm, “The origin of the Work of Art”), và Husserl. Chúng ta không biết ông đọc nhiều, hay ít, Walter Benjamin, nhưng rõ ràng những bài viết của Benjamin ảnh hưởng lên thơ Simic, kể từ “White”, tôi phác ra ở đây:

Thứ nhất, chắc chắn Simic đã ôm lấy câu của Benjamin: “Chúng ta đều là những đứa trẻ mồ côi của những ý thức hệ”,” "orphans of ideologies”, và như Benjamin, ông rất ư hồ nghi về mọi hình thức của chủ nghĩa không tưởng, all forms of utopian idealism, bao gồm Mạc Xịt. Chính vì lý do này mà Benjamin đếch chịu được dòng tư tưởng Hegel thập niên 1930, mặc dù ông là bạn với, và bị ảnh hưởng bởi, một vài trong số những khuôn mặt nổi tiếng nhất của nó, bao gồm Theodor Adorno. Cái sự quá chán “tiến bộ” trong lịch sử, thì được ông mô tả 1 cách thần sầu, khi ông chiêm ngưỡng 1 bức họa của Paul Klee, như ông ghi lại trong “Những Luận đề về Triết học của Lịch sử” [“Theses on the Philosophy of History”]:
    A Klee painting named "Angelus Nevus" shows an angel looking as though he is about to move away from something he is fixedly contemplating. His eyes are staring, his mouth is open, his wings are spread. This is how one pictures the angel of history. His face is turned toward the past. Where we perceive a chain of events, he sees one single catastrophe which keeps piling wreckage upon wreckage and hurls it in front of his feet. The angel would like to stay, awaken the dead, and make whole what has been smashed. But a storm is blowing from Paradise; it has got caught in his wings with such violence that the angel can no longer close them. This storm irresistibly propels him into the future to which his back is turned, while the pile of debris before him grows skyward. This storm is what we call progress. (Illuminations 257-58)

Peter Schimidt: White: Charles Simic's Thumbnail Epic

Bức họa của Klee, một thiên thần đang tính chuồn khỏi một điều gì Người đang hết sức chiêm ngưỡng. Đôi mắt Người nhìn chằm chằm, miệng há hốc, đôi cánh xoải ra. Đó là hình ảnh con người nhìn "thiên thần lịch sử", qua nét vẽ của Klee. Mặt của Người hướng về quá khứ. Nơi con người chìn thấy một chuỗi những sự kiện, Người chỉ nhìn thấy một thảm họa, của những rác rưởi, cứ thế chất thành 1 đống bát nháo dưới chân Người. Có lẽ Người muốn ở lại, đánh thức người chết, làm thành một toàn thể từ những đổ nát. Nhưng một trận bão từ Thiên Đàng ùa tới, đôi cánh của Người bị lay động dữ dội, Người không làm sao co lại được. Trận bão cứ thế cuốn Người về tương lai; lưng thiên thần quay về phía đó, mắt nhìn đống rác cứ thế cao ngút trời. Trận bão đó, là cái mà chúng ta gọi là tiến bộ.

http://www.tanvien.net/Dayly_Poems/28.html

Bếp lửa trong văn chương  ( Nguyễn Quốc Trụ)

*

Có thể đọc truyện Trăng Ơi Thơ Ấu Mãi tại đây
Bài viết bên lề một cuốn sách
http://tanvien.net/tg/tg_kham_chi.html

Có những truyện ngắn thuộc loại "kiệt xuất"; đọc, ta ngỡ ngàng, đến nghẹt thở, nhưng kể cả tác giả, lẫn người đọc, đều không tin, nó sẽ có những "đàn em". Tác giả khi viết, và độc giả, khi đọc, đều cảm thấy sẽ có lúc phải chia tay với nhân vật trong truyện. Truyện ngắn Bức Tường của Sartre, Kẻ Xa Lạ của Camus, hay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu, chẳng hạn. Tôi cứ nghĩ đến cảnh chia tay của họ Dương, với bầy sư tử của ông. Tôi vẫn nghĩ, những truyện ngắn như vậy, là những ẩn ức, những phẫn nộ, những nỗi đau, của đời sống, nhiều hơn là của văn chương.

Note: Bầy sư tử này, GCC được biết, DNM chôm của Hemingway. Chính DNM bật mí, qua 1 người quen của cả hai.

"..Hà-nội của Nguyễn Chí Kham đi từ văn chương ra ngoài đời. Một Hà-nội của tưởng tượng, của mơ tưởng, hoang tưởng, không tưởng... Chỉ là những chi tiết, mọc lên từ hư không, dứt ra từ tưởng tượng. Anh tù cải tạo, tới Hà-nội, tần ngần, ngơ ngẩn, giấu biệt "căn cước" của mình, nhất là những ngày tù ghê rợn. Bố anh là quân nhân. Mẹ anh làm nghề nấu hàng cơm. Anh giúp mẹ đưa cơm tháng cho cô giáo. Rồi nhờ cô kèm thêm. Anh học trò ngày xưa, thành sĩ quan như bố, đi cải tạo, mang ...

See More

John le Carré: I was beaten by my father, abandoned by my mother

https://www.theguardian.com/books/2016/sep/02/john-le-carre-beaten-by-father-abandoned-by-mother-the-pigeon-tunnel-memoir

He insists he is an author who “once happened to be a spy” rather than a “spy who turned to writing”.
Graham Greene rất bực khi bị coi là nhà văn Ky Tô, nhưng, 1 tiểu thuyết gia theo đạo, OK.
Greene objected strongly to being described as a Roman Catholic novelist, rather than as a novelist who happened to be Catholic


My Old Saigon
Hai Anh commented on this.
Follow

Hai hôm trước thấy mọi người khen món bún ốc nguội, bún ốc nóng ở một chỗ là ngon nhất vịnh Việt Nam . Mình tò mò mua về ăn thử . Nói thật một cách khiêm tốn nhất ngon bằng 70 % mẹ mình nấu thôi nhé . Mình cả 10 năm nay không ăn bún ốc của ai nấu vì không ai nấu ngon bằng mẹ . Nịnh bà cho công thức Post lên cho cả nhà tham khảo nhé . Bạn nào thích nấu thử đi bảo đảm có món bún ốc thần thánh gia truyền của cô giáo Thiện ( mẹ mình Hà Nội gốc 8 đời ) Nhé
Chuẩn bị nguyên liệu (...

Continue Reading

Ui chao, đây là 1 trong những món Bắc Kít, Gấu cực mê.
Về già, Gấu tự hỏi mi mê nó, tất nhiên là do ngon, nhưng còn do 1 điều gì khác nữa, đúng không?
Quả có thế.
Chỉ đến khi trở lại đất Bắc, thì Gấu mới vỡ ra được.

*

https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/29160587460/







*

Số Điểm Sách này, có hai bài thật là tuyệt về Liên Xô.
Một là về Nhà Tù Không Mái. Đọc nó thì mường tượng ra, nếu không nhờ ơn Thiên Triều, thì lũ sĩ quan Ngụy đều chết hết trong cái nhà tù này, với cả vợ con gia đình.
Bởi vì chủ ý của Bắc Kít, là, không thả tù, như Liên Xô, khi thành lập Gulag.
Và bài trên.
Đọc thì đúng là số phận nước Mít sắp tới:

All her life, she tells Alexievich, 'I waited and waited for the good life to come. When I was little, I waited for it ... Now I'm old. To make a long story short, everyone lied, and things only ever got worse.'
That village came to Alexievich's attention after the woman's next-door neighbor went outside to his vegetable patch, doused himself with petrol and burned himself to death.

Từ hồi còn bé tí tôi đã đợi... Bây giờ, tôi già, để cho 1 câu chuyện dài thành ngắn
, mọi ngưòi đều nói dối, và sự tình bây giờ thì quá tệ rồi, vô phương cứu chữa!
‘People who have come out of socialism’, she writes, ‘are both like and unlike the rest of humanity – we have our own lexicon, our own conceptions of good and evil, our heroes and martyrs. We have a special relationship with death.’
Những người ra khỏi hang Pác Bó, thì giống và không giống phần còn lại của nhân loại... Chúng tôi có 1 liên hệ đặc biệt với cái chết.
'Only a Soviet person can understand another Soviet person,' a former senior of Kremlin official tells her. 'I wouldn't have talked to anyone else.'
This is a very Russian style, originally born of scrappy samizdat publishing and the fear of getting informants into trouble (Solzhenitsyn is similarly impressionistic). Alexievich herself insists that she is a writer rather than a journalist: her work is a 'history of emotions' rather than a history of events. But as well as frustrating the reader, this approach limits her work's evidential value, which is a great pity when Putin is busy building myths and suppressing genuine memory. It is a wonderful thing that Alexievich has been awarded the Nobel Prize. Second-Hand Time ought to be pressed into the hands of every thinking person. But pruned and more convention- ally presented, her devastating polyphony of voices might reach a wider audience.

House of the Dead

 TTT 10 years Tribute

Vẫn trong cái dòng tưởng niệm ông anh TTT, Đinh Cường, người có thể coi là người bạn độc nhất của TTT, như với GCC, là Joseph Huỳnh Văn, cái/lũ còn lại bỏ hết, và mới nhất, là Dương Nghiễm Mậu, Tin Văn lèm bèm tiếp về 1 số tác giả khác, cùng thời với họ, nhóm Sáng Tạo, Võ Phiến....
Đang tính viết về Walser, nhân đó, viết về tranh Đinh Cường, nhưng Cô Út đem làm từ thiện cả kho sách, mất sạch, chỉ còn mấy cuốn quanh quẩn nơi bàn viết.
Biết đâu, nhân đó, lời chúc của K thành sự thực, chỉ làm thơ thôi, ngoài ra bỏ hết....
Ui choa, được như thế, thì quá tuyệt!

http://www.tanvien.net/Viet/HNB_Case.html

Note: Có hai tay, viết truyện trinh thám mà cứ như làm thơ, hoặc ít ra, thật khó mà sửa 1 câu văn của họ, theo GCC.
Đó là Raymond Chandler và Ian Fleming.
Còn mấy tay nữa, không chỉ hai tay này. Thí dụ, Len Deighton.
Mít, viết câu nào là phải sửa câu đó, chán thế, "nhất là" mấy đấng có tên tuổi, có đấng có cả chục đầu sách.
Nếu không sửa văn, thì sửa lỗi chính tả.
Sến phán, đọc vài dòng, là vứt thùng rác, chắc là do đó?
Thí dụ, Nguyễn Đăng Thường, hay Nguyễn Văn Lục, chẳng hạn?

NDT đã từng chê bài thơ Dạ Khúc thần sầu của TTT, trong có câu thần sầu, “ôm em trong tay mà đã nhớ em những ngày sắp tới”, Gấu cũng đã từng chỉ ra, 1 bài thơ như vậy mà không đọc được [tính kiếm lại mà không sao tìm ra], (2) làm sao đọc Beckett, nhưng bây giờ, nghĩ lại, có thể do anh ta…  quê một cục, tại sao chúng chỉ đọc, chỉ khen thơ TTT, mà không tên nào khen thơ của…  ta?

TTT cũng như thằng em của ông, cả hai đều bị chúng ghét, và chúng, ở đây, đa số đều là bạn quí cả!

MT thì nghĩ bạn mình ngỏm ở trong tù VC rồi, nên nhớ lại lần đầu gặp bạn, thì tưởng là, 1 tên thợ sắp chữ nhà in báo Dân Chủ, và thằng khốn còn dám ngửa tay xin Công Tử Hà Nội, 1 điếu thuốc lá.
Bạn VL, trong bài mới viết, tưởng niệm 10 năm, thì lôi cái chuyện đã từng bỏ ra 10 ngàn đồng, giúp TTT thanh toán 1 vụ tiền tạm ứng, hồi còn Sài Gòn, vậ
y mà khi ra hải ngoại, phôn, không thèm trả lời!
Em Thụy Khê, Trùm 1 diễn đàn của Tẩy, phôn, đếch thèm bắt phôn, gần như phát điên!

Thi sĩ Phố Văn thì bệ những lá thư viết cho “đảo xa” về blog của chàng, ra ý, tưởng là đạo đức thế nào, hóa ra cũng có bồ nhí!

NDT cả 1 đời làm thơ, đâu có cuốn thơ nào?
Mãi đến cuối đời
, được nhà xb Giấy Vụn thương hại in cho 1 tuyển tập.
Đọc bài trường thiên phỏng vấn, mấy kỳ liên tiếp
trên Gió O, thấy tinh thần có vẻ loạng quạng rồi!
In, dối già, hay chạy tang?
Ông cho biết, không có ý định in, dù đã từng là 1 trong những trụ cột của nhà xb Trình Bày.
Lý do theo Gấu, NDT chưa kiếm ra được giọng thơ của ông, và mỗi lần làm thơ là nhại giọng của 1 nhà thơ nào đó. Anh đã từng nhại giọng thơ TTT.

Sống chẳng làm cho chúng vui, khi chết làm sao bắt chúng buồn cho được.
TTT đã từng căn dặn gia đình, như vậy, khi biết mình sắp đi xa.


Borges Conversations
Đạo Hạnh & Văn Hóa

*

Cuốn sách cuối cùng của Borges, là cuốn Conversations, và nó gồm hai cuốn, cuốn thứ nhì cũng đã xb, nhưng Gấu đọc tin văn trên 1 tờ báo mũi lõ, không nhớ tờ nào, cho biết, cuốn thứ nhì dở, do Borges già quá, trí nhớ lộn xộn rồi.

"Phần hồi ức con người" của Kafka, thì cũng giống như 1954 của TTT, với hồi ức Mít: Chúng ta không thể nào hiểu được 1954 nếu thiếu "Bếp Lửa", thí dụ vậy,

Nhưng chúng ta được biết là chúng ta không thể có được cú diễn giải trung thực về thời của chúng ta nếu không có sự giúp đỡ của Kafka.

Đúng, nhưng K quan trọng hơn thời của chúng ta. Thật thê lương, K phải sống sót thời kỳ này, và những giản lược của nó. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta chịu đựng cái thế kỷ này mà chẳng có lấy 1 tí tự hào, Với tí hoài nhớ thế kỷ 19, mà nó thì lại có tí hoài nhớ thế kỷ 18. Có lẽ Oswald Spengler có lý về cái sự thoái trào mà chúng ta hoài nhớ - hiển nhiên là chúng ta có thể nói về cái thời cũ kỹ [trước 1975] của chúng ta, và chúng ta có lý, hơn lũ VC, tất nhiên. Bất cứ cái chó gì dính dáng tới trước 1975, thì đều bảnh tỏng cả!

Có em Carmen Gándara đi 1 đường tiểu luận thú vị về Kafka, tôi mới đọc gần đây. Em phán 1 phát cực lạ về Kafka: Xuyên suốt đời mình, Kafka tìm kiếm một Thượng Đế “vắng mặt” của thời của chúng ta.

Borges: Tôi bị hỏi hoài về vụ này, mà thực sự không hiểu. (1)
Ý của tôi là, mặc dù mọi chuyện, Kafka có thể là 1 tín hữu, hay có 1 tinh thần tôn giáo. 

Borges: Đúng như thế, nhưng tinh thần tôn giáo thì không cần phải tin vào một ông trời cá nhân. Thí dụ tín hữu Phật Giáo đâu có tin vào một ông Phật có hình hài giống… chúng ta, đúng không, và chuyện đó đâu cần. Cái ý tưởng tin vào 1 ông trời cá nhân thì không phải là 1 yếu tố cần thiết trong tinh thần tôn giáo. Những kẻ phiếm thần, hay Spinoza – ông này thì thực là bí ẩn và ông phán, “Deus sive natura”, Trời hay Thiên nhiên. Hai thứ đó là một đối với ông ta.

(1)

Điều mà Borges, bị hỏi hoài, mà thực sự không hiểu, theo Gấu, chính là cái gọi là Tận Thế Là Đây, mà xứ Mít cần, trong bài essay trên tờ Harper's nhắc tới, dưới đây.
Thượng Đế vắng mắt, là để cho Tận Thế xuất hiện.
Gấu nhức đầu, với câu hỏ
i này, cho tới khi cầm số báo Harper's mới nhất lên...
Bây giờ chỉ có Tận Thế thì mới cứu Mít ra khỏi Địa Ngục Đỏ do Cái Ác Bắc Kít gây nên thô
i!


Sách & Báo

*

Call For The Dead
GCC hay dịch trật, còn là do, cứ nghĩ mình là 1 cao thủ chơi cờ tướng, cùng 1 lúc chơi mấy ván cờ, cùng 1 lúc dịch mấy bản văn, và “dịch trật” xẩy ra, khi đầu óc bị cuốn hút vào, chỉ 1 vấn đề, 1 tác giả.

Mới rồi dịch 1 bài thơ từ tiếng Anh, và 1 vị thân hữu cho biết, nguyên gốc tiếng Nga, không phải như thế.
Coi lại bản tiếng Anh thì cũng y chang bản tiếng Nga.
Không chỉ bài thơ mà còn bản dịch khác nữa, K nhận ra, và sửa giùm. Hóa ra là vào lúc đó, Gấu đang bận tâm về 1 “việc khác”, dịch thì dịch, nhưng đầu óc ở bên ngoài cõi đời này, đại khái như vậy.

Giống lần dịch 1 bản văn tiếng Tây, cho talawas, lúc đó đang mê đọc Joseph Roth, thấy cũng dễ, bèn dịch nhoáng 1 phát, để đọc Roth tiếp, và bản dịch trật nhiều quá, đến nỗi Sến phải nhờ 1 người khác dịch lại toàn thể bản văn. 

Date: Tue, 5 Apr 2005 13:44:01 -0700 (PDT)
From:
Subject: Hỏi thăm
To:
Site của anh là một trong những site mà người viết thư này hay vào. Tuy không quen, không biết anh, người viết cũng đánh bạo mà xin anh cho vài câu trả lời dùm : Làm cách nào mà anh đọc nhiều, viết thật nhiều, maintain cái site của anh, giữ mối liên lạc bằng hữu và người thân, mà không thức trắng đêm, ngày này sang ngày khác vậy???

Đây là cái mail đầu tiên của K, nhận được khi đang ở Cali thăm bạn.

Thường là, Gấu thường dịch, cùng 1 lúc, vài ba bản văn, sống, cùng 1 lúc, vài ba cuộc đời….
Đ
ây là câu trả lời đúng nhất cho sai sót của đời Gấu!

Borges, theo Gấu, là 1 ấn bản khác của Kafka. Hay nói 1 cách khác, Borges là đệ tử của Kafka.
Cõi mộng của Borges là cõi ác mộng của Kafka. 
Cái chuyện Borges là đệ tử của Kafka, Tin Văn đã phán rồi, và cũng nhiều người nhận ra, nhưng hai cõi là 1 thì Gấu mới ngộ
ra, nhân đọc 1 bài trên tờ Lire.

*

*

Sartre phán, chữ [les mots] là hành động [les actes]. Vargas Llosa mê quá, nhận là Thầy.
Nhưng khi Thầy phán, "
Trước đứa trẻ chết đói, cuốn Buồn Nôn của tôi chẳng đáng 1 ký lô", Trò bye Thầy.
Đây là cuộc đối
đầu giữa thế giới của Borges với thế giới của Kafka, mà Pamuk nhận ra, khi phán:
Cái sự độc ác của con người thì cũng mãnh liệt như sự tưởng tượng của con người.

V/v Borges

YEAR AGO TODAY

Wed, Aug 26, 2015

Người ta có thể đọc cả một thư viện của thế gian, nhưng vẫn là một tên vô học. Nhưng nếu chỉ vô tư ‘chơi’ một, hoặc hai câu, mà thôi, và thế là thành 1 tay uyên bác"- Quoc Tru Nguyen nói như vậy về Borges (1)
Nguyễn Tuân cũng từng nhận xét về Chính Hữu : " Cả đời thơ CH được 2 câu ' Mái buồn nghe sấu rụng' và ' Đầu súng trăng treo'. Nhưng có 2 câu đó cũng đủ để được coi là nhà thơ rồi".
Thế mà lần tái bản Chính Hữu sửa thành : " Phố dài nghe sấu rụng", Nhị Ca, người bạn thân của ông mắng : Mái buồn thành phố dài thì vứt mẹ nó thơ đi rồi, sao ông lại làm vậy ?
Phải chăng vì cái chức cục trưởng, mà cục trưởng thì là cái cục cứt gì ?

"Chiếc áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ"

Khi tác giả bài thơ này đọc cho Chính Hữu nghe trong một cuộc họp cơ quan mà ông là "sếp", ông tái mặt, gỡ kính, trầm ngâm rồi yêu cầu đọc lại, hình như ông cũng nhận ra một điều gì.

Ps : Ngày bé, bọn nhóc mình khi nghịch ngợm như nhảy vào bể nước tắm, hoặc trèo sang nhà số 2 Lý Nam Đế ăn trộm nhãn, sợ nhất là bị ông CH bắt được.
Bài thơ Đêm Hà Nội mùa đông 51 :
Đêm Hà Nội buốt tê
Mái buồn nghe sấu rụng
Ngoài cửa ô bóng những con đê
Ầm ì tiếng súng...

(1)

http://tanvien.net/new_daily_poetry/Borges_Page.html

« On pourrait lire (si l'on vivait assez longtemps) tous les livres du British Museum et rester cependant une personne franchement illettrée et sans instruction; mais si on lisait dix pages d'un bon livre, mot à mot - c'est-à-dire avec une véritable acuité -, on serait une personne instruite. L'unique différence entre une personne instruite et une autre qui ne 'est pas tient à cette acuité. »



My Old Saigon
Bùi Văn Phú liked this.
Follow

ANH QUỐC ƠI...

Nhờ Khanh Viet Nguyen nhắc, Hoàng Oanh mới nhớ lại trong một Đại nhạc hội ở Texas năm 2000, Hoàng Oanh trình diễn bài hát Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc của nhạc sĩ Phạm Duy. Khi bài hát chấm dứt, có một thanh niên lên sân khấu tặng hoa và cảm ơn Hoàng Oanh vì đã hát bài hát vinh danh người cha của anh là cố Đại tá Không quân Phạm Phú Quốc.

Đây là một trong rất nhiều kỷ niệm trong đời ca hát của Hoàng Oanh.

... See More

Đọc stt này, thì bèn nhớ cái thời mới lớn, mê nhạc, mê ca sĩ, mê bản nhạc do ca sĩ mình mê, hát. Và cái bài hát mà Hoàng Oanh, ca sĩ học trò, như lúc đó được gọi, vì cứ áo dài, đứng hát thật nghiêm chỉnh, và bài hát được mê, là Hoa Soan Bên Thềm Cũ.
Có những đấng chạy sô y chang nữ ca sĩ chạy sô, nghĩa là, nghe xong Hoa Soan ở phòng trà này, thì vội vàng chạy qua phòng trà, lại chỉ để nghe Hoàng Oanh hát, Hoa Soan Bên Thềm Cũ



http://www.tanvien.net/Day_Notes/Gau_Saigon_5.html


The Spy Who Loved Us

Norman Sherry, trong bộ ba khổng lồ, Cuộc Đời Greene, có đưa ra nhận xét, anh phóng viên Mẽo nào, trên đường tới Việt Nam, vào những năm tháng nóng bỏng đó, đều lận lưng một bửu bối, là cuốn Người Mỹ Trầm Lặng.
Trong truyện ngắn, gần như là một thứ tự truyện, Cõi Khác, Gấu đã lầm, khi nghĩ rằng, mấy anh Mẽo này mơ tưởng viết một cuốn tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam có vóc dáng Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh của Remarque.

Tại sao lại có sự "lầm lẫn" như thế? Liệu có phải Greene hơn Remarque? Gấu vẫn thường tra vấn mình, và sau cùng, nhân đọc một số tác giả, trong số đó, có Steiner, Benjamin, Milosz... và ngộ ra là:
Sau Remarque, hay rõ hơn, sau Đệ NhấtThế Chiến, không thể có một Mặt Trận Miền Tây nào, cho bất kỳ một cuộc chiến nào.
Remarque là nhà văn chấm dứt  thứ tiểu thuyết viết về chiến tranh như cuốn của ông. (1)

Đây là điều những nhà phê bình nước ngoài nhận ra, khi đọc Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh, và coi nó cao hơn Mặt Trận Miền Tây. Cao hơn không phải là do Bảo Ninh có tài hơn, mà là, chiến tranh, con người, ở trong Nỗi Buồn Chiến Tranh khác với chiến tranh, con nguời như được miêu tả trong Mặt Trận Miền Tây.
Tiếp theo đó, cũng thế, số phần của Greene, là phải viết Người Mỹ Trầm Lặng. Những so sánh nhắc nhở tới ông, là vì ai cũng muốn được như... ông.

Toan tính rõ rệt nhất, và, thất bại rõ rệt nhất, là trường hợp cuốn Thời Gian Của Người của Nguyễn Khải. Nó thất bại, là do muốn hay hơn cả Người Mỹ Trầm Lặng, theo nghĩa, lọc bỏ hết cái xấu xa, cái ác quỉ, của cả con người lẫn cuộc chiến, và nhất là của con người, như là một tên điệp viên. Nó thiếu cái phần sự thực cay đắng, chua chát nhất, ở một nhà văn Ky Tô như Greene, [so với một nhà văn Cộng Sản như Khải], khi ông tuyên bố:

“Tôi phải kiếm cho ra một tôn giáo để đo lường cái phần quỉ ma ở nơi tôi”.

Nhân vật Quân [hoá thân của Ẩn,] trong Thời Gian Của Người "thánh thiện quá" [theo nghĩa thép đã tôi thế đấy], nhà văn như Nguyễn Khải, một lòng một dạ biết ơn Đảng, viết dưới ánh sáng của Đảng, thành thử chỉ đẻ ra một thứ phẩm, đúng như Gide nói. [Những tình cảm tốt đẹp đẻ ra một thứ văn chương tồi].
Một cách nào đó, cuốn Người Mỹ Trầm Lặng có một vị thế [position,status], của cuốn Bóng Đêm Giữa Ban Ngày của Koestler.
Nó cũng chứa trong nó, vụ án của thế kỷ.
*

"Đại tá Edward Lansdale - người được coi là khuôn mẫu cho nhân vật chính trong Người Mỹ Trầm Lặng của Graham Greene".
Bass

Một anh Xịa cáo già như Lansdale làm sao lại có thể là nguyên mẫu cho một Mẽo gà mờ cù lần như nhân vật Pyle trong Người Mỹ Trầm Lặng?

Như Norman Sherry cho thấy, Pyle là tổng hợp của nhiều người. Có cả Lansdale trong số đó. Nhưng Sherry chứng minh, Pyle bản chất là một anh Hồng Mao: Pyle is straight out of a good quality public school - in essence he is  English.

Có thể Ẩn giống Pyle, theo nghĩa này, bản chất của anh   một Cộng Sản. Một người Bắc vô Nam trước 1954 và là một Cộng Sản, làm việc cho Bắc Bộ Phủ.
Đây là sự khác biệt giữa Trung [phi công ném bom Dinh Độc Lập] và Ẩn.

Trung là một con người, với lòng hận thù rất con người của anh. Có thể, chuyện anh ta theo CS chỉ giản dị như thế này: Tụi bây giết cha tao, tao thù tụi bay, tao theo Cộng Sản, chủ nghĩa đó tốt xấu tao đếch cần biết, nhưng chắc chắn, nhờ nó, tao sẽ trả thù được cho cha tao.
Ẩn, không. Anh chẳng thù hằn gì cái miền đất đã nuôi dưỡng anh, nhưng, có thể, anh tin rằng, miền đất này sẽ còn khá hơn thế nhiều, nếu nó được Bác và Đảng chăm lo. Cái tay Hoàng Tùng [?] dâng Đất Thục, cho, hết Tào Tháo đến Lưu Bị, đâu phải hắn là một tên phản quốc khốn kiếp! Hắn nghĩ rằng, như vậy là tốt cho Đất Thục!
Có thể Cao Bồi đã nghĩ như vậy, khi "nằm gai nếm mật", ăn cơm quốc gia, giả đò làm việc cho Mẽo, nhưng thực tình thì là một con ngựa Hồ hướng về, hí về... Đất Bắc! Tâm sự của anh là như vầy:

Từ thuở mang gươm đi dựng nước,
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long!

*

*

Anh George yêu quí của Em,
Em muốn cầu xin Anh một điều mà không một người đàn ông phong nhã nào có thể chấp nhận.
Em muốn trở lại với Anh.
Em hiện đang ở khách sạn Baur-au-Lac ở Zurich tới cuối tháng.
Em trông tin Anh
Ann

Cú ngửa tay xin tiền bạn cũ của PXA phải nói là cú tối tối độc, bởi vì, với cái tội để mất Miền Nam, rồi để mất cả nước, rồi đẩy cả nước xuống biển, rồi đẩy cả nước vô cơn băng hoại không làm sao ra thoát [Gấu tin là vô phương!], biến cả thế giới thành bãi đánh hàng nữa chứ!, tất tất tật đổ vào đầu PXA, khi ông đánh bức điện mở cửa Sài Gòn: Yankee mũi lõ chạy có cờ rồi, chúng không có lý do nào để trở lại nữa, Yankee mũi tẹt vô mau lên!

Không có bức điện của PXA, có thể tình hình khác đi.

Hơn ai hết, là một tổ sư cớm nằm vùng, như con cú từ trên cao nhìn xuống, ông quá rành điều này, như Ngọa Long ngày nào nằm khểnh trong lều tranh, mà biết thiên hạ sẽ phân ba.

PXA biết, nhưng không biết, cái không thể nào biết: Ông xa Đất Bắc lâu quá, đã mấy đời rồi, ăn cơm Miền Nam, ị ra cứt Miền Nam cũng đã mấy đời rồi, trong cứt không còn một tí Bắc Kít nào hết, nhưng trái tim ông hoàn toàn là Bắt Kít, một thứ Bắc Kít tuyệt vời, từ đó, là cái chân lý tuyệt vời, thống nhất đất nước, biến cả nước thành một Miền Nam tuyệt vời.

Trong ông Cái Ác Bắc Kít kể như không còn.

Vào những giờ phút cuối cùng, ông đi không được, là vì những chuyện đó, chắc chắn như vậy. (1)

Sep 26, 2013

Mưa chân trời

Cái nước mình nhỏ thiệt, bão ở đâu đâu mị ngoài Bắc mà chót Mũi cũng mưa tối mắt. Ai đó trong mấy anh ngồi uống trà chiều ở cái chòi sửa xe, nói bâng quơ ngó chuỗi mưa xiêu xẹo. Sáng đến chiều vẫn một màu trời âm u đùng đục, đầu đêm đến cuối đêm một thứ âm thanh rả rích. Tôi lánh cái nhìn vô cái pitong lửa leo lét cháy ép vá vỏ xe bị đinh đâm lủng, ứ hự nghĩ tới phải đội mưa đi đón hai nhóc con. Anh vá xe một tay đưa võng cho đứa thứ hai ngủ, tay kia ẵm lủng lẳng đứa sau, nói “tối nay bão vào quê, không biết thằng em chống chọi sao rồi”.
Tin báo bão trên đài nói rằng nó ráo riết nhắm hướng Tiền Hải, anh vá xe rầu. Năm trước nhà em trai anh bị bão dỡ một lần, vừa vá xong đận này chắc là lại rách. Nhiều năm nay anh không về quê. Tháng Bảy này năm ngoái, anh mất đứa con trai đầu lòng khi nó đi xúc cá bị chết đuối. Khi người đàn ông này dắt díu vợ di cư đến mảnh đất mút ngọn miền Tây, đã không bao giờ nghĩ mình sẽ vùi cốt nhục ở đây. Lần nào ghé căn chòi sửa xe này, tôi có một chút khó thở. Không hiểu vì trà Bắc chát đắng hay nhớ thằng bé người ta từ dưới đáy ao hoang đằng sau trạm xăng lên, nhớ hình ảnh thằng bé mười tuổi mà tôi vẫn thấy hay đi mua kẹo ở tiệm tạp hóa gần nhà, vắt đứa em gái trên cái hông mỏng te bén lẹm xương của nó.
Hồi còn nhỏ, tôi có nhiều kỷ niệm với những người Bắc di cư vào. Tiệm gạo nhà tôi cất ngay cửa ngõ vào cái xóm Hà Nam Ninh. Họ ở co cụm, như thể để thỏa nhu cầu nghe tiếng nói quê nhà ới ơi mỗi buổi sớm. Mùa mưa, xóm lụn trong nước và lau sậy. Những con ngỗng giữ nhà rướn cổ ném cho khách những tiếng kêu đầy ác cảm. Sân nào cũng đầy dấu chân của vịt, gà. Những thùng nước cơm cặn lặc lè yên sau xe đạp. Cô giáo dạy văn mà tôi thương nhất. Con bạn cùng lớp cạnh tranh vị trí nhất nhì. Vài chị là mối mua gạo cám của tiệm nhà tôi. Những con người ấy làm tôi thắc mắc cái xứ sở mà tôi gọi là nước Bắc không biết gần hay xa. Chắc xa, họ gọi chén bát lung tung xèng, phở thì không rau giá, canh chua không nêm đường, cà đem muối trong chum, bánh tét lại vuông. Chắc xa, năm bảy cái tết họ mới về quê một lần.
Nhưng những cơn mưa dầm tháng tám làm tôi thấy họ gần mình. Bởi những cái thở dài không phân biệt tập quán và quê xứ. Dù họ lo lắng giông bão phía quê nhà, tôi rầu đơn giản chỉ là mưa thấy rầu thôi, nhưng chắc là cộng cảm theo kiểu ai ra mưa cũng ướt, ai ở dưới trời này cũng phải chịu những cơn mưa rũ rượt. Cùng một nỗi buồn nhà dột, bán buôn ế ẩm, cơn cảm cúm mũi dãi chảy sụt sùi.
Những cuộc đi mê miết đã làm nhòa những lạ lẫm của người Nam nhìn kẻ Bắc. Cửa hàng bán đồ Bắc xuất hiện nhiều thêm trên nội ô thành phố. Nhưng phở gia truyền Hà Nội cũng rau giá đầy vun, bánh cuốn gia truyền Hà Nội với nước chấm pha đường ngọt lịm. Tết, nhà họ cũng có nồi thịt kho tàu. Lâu lâu trên đài địa phương có phát biểu của một ông giọng miền ngoài mà bắt đầu bằng mấy chữ ‘thưa bà con,”. Mấy em cộng tác viên gốc Bắc viết truyện ngắn gửi tạp chí văn nghệ dùng phương ngữ miền tây ngọt sớt. Những thế hệ thứ hai, thứ ba đã dạ thay cho vâng. Anh thợ sửa xe nói, từ khi không còn cha mẹ già ngoài ấy, thì loay hoay chỉ trung thu và tết mới thấy nhớ quê, dợm muốn về. Miền Tây không có cái không khí lễ hội của trăng rằm và dịp đầu năm. Nhưng từ mất thằng nhỏ, cất bước đi đâu cũng khó.
Anh bỏ sót mưa. Dải đất nằm nghiêng theo biển, nghe mưa dầm dề là biết có áp thấp nhiệt đới gần bờ, không tạt vô trung thì ra bắc. Mùa mưa phương Nam trùng với mùa bão lũ ngoài kia. Mưa buộc người lang bạt lại với cái gốc rễ tưởng đã bứt lìa. Anh hỏi vợ ghi số điện thoại của thằng em ở quyển sổ nào, quên mất.
Giữa cơn mưa gió ẩm ê, những cuộc gọi từ cuối đất phập phồng theo cơn bão ở chân trời.

Blog Sầu Riêng

Nhắc đến Cao Bồi “nằm gai nếm mật” bao nhiêu đời, nhân đọc NNT, bài viết thật tuyệt, nhưng bị mấy cái lỗi “hỏi ngã”, tiếc quá, bèn sửa, và post lại ở đây.
Cũng 1 cách “buộc người lang bạt…”
Hà, hà!

Tiện thể. Trên trang Gió O của bà Huệ, "hỗ trợ", không phải "hổ trợ".
Lại nhớ Gấu Cái.
Hồi Bả "tập" viết văn, chỉ cho phép Gấu sửa lỗi chính tả, cấm sửa văn, cho "còn nguyên" mùi Nam Kít, không bị pha tạp!

Trang FB của GCC

Link ở đây, để lỡ GCC vội - "đột xuất", chữ của Vẹm - đi  xa, Gấu Cái/Jennifer Tran thông báo độc giả TV, giùm.
Bả không biết làm sao post trên Tin Văn!

Em còn nhớ hay em đã quên?
Nhớ Sài gòn những chiều lộng gió
Lá hát như mưa suốt con đường đi
Có mặt đường vàng hoa như gấm
Có không gian màu áo bay lên

Note: Thần sầu! Mỗi lần nghe, là Gấu lại nhớ đến bài viết của Borges, về những tiền thân của Kafka, về "một vài người sở hữu đủ thứ trái địa cầu, bản đồ thế giới, chỉ dẫn đường xe lửa và những tuyến đường lớn, nhưng chết mà chưa từng toan tính một lần rời xa tỉnh nhà."

TCS là thứ người đó, ông không thể xa Sài Gòn, đành ở lại, ôm lấy nó, cho tất cả chúng ta!

Có lần Gấu phán ẩu, nhưng thật đã, thật đúng, cái hồn văn chương Miền Nam ở trong những bản nhạc sến là thế. Nhạc TCS thì cũng thứ nhạc sến, hiểu theo một nghĩa nào đó.
Cái sến nhất của nó, là làm người ta quên cuộc chiến, trong khi nhạc lính, ôm lấy nó. (b)

INTERVIEWER

In your interview with Gordon Lish in Genesis West, you say that there are two kinds of poetry. On the one hand, there are poems that give delight; on the other, there are poems that do something else. What do you mean by "something else"?
GILBERT

I think serious poems should make something happen that's not correct or entertaining or clever. I want something that matters to my heart, and I don't mean "Linda left me." I don't want that. I'll write that poem, but that's not what I'm talking about. I'm talking about being in danger-as we all are-of dying. How can you spend your life on games or intricately accomplished things? And politics? Politics is fine. There's a place to care for the injustice of the world, but that's not what the poem is about. The poem is about the heart. Not the heart as in "I'm in love" or "my girl cheated on me"-I mean the conscious heart, the fact that we are the only things in the entire universe that know true consciousness. We're the only things-leaving religion out of it-we're the only things in the world that know spring is coming.
Jack Gilbert
The Art of Poetry
The Paris Review Interviews, I

Trong lần trả lời Gordon Lish trên Genesis West, ông phán, có hai thứ thơ, một, làm sướng điên lên, một, làm một cái quái gì đó. Cái quái gì đó, là cái quái gì, hở ông?
GILBERT

Tôi nghĩ có thứ thơ thần, nó làm cho một điều gì đó xẩy ra, và cái điều này thì đếch có đúng, đếch có mua vui, đếch có thông minh, dí dỏm, hóm hóm, hay bất cứ cái chi chi.
Tôi muốn một điều gì đó xẩy ra cho trái tim của tôi, và tôi không muốn “BHD bye bye tôi”. Tôi không muốn điều đó. Tôi sẽ làm một bài thơ, nhưng đó không phải là điều tôi đang nói tới. Tôi đang nói tới điều nguy nàn – nhưng tất cả chúng ta nguy nàn - chết. Làm sao chúng ta có thể trải qua đời mình trong những trò chơi, hay những sự việc được hoàn tất th
ật phức tạp? Và chính trị? Chính trị thì OK. Phải có một nơi lo ba cái chuyện công lý trên đời, nhưng đó không phải là điều của thơ. Thơ là về trái tim. Không phải trái tim theo kiểu, “Tôi đang yêu”, hay “Em lừa dối tôi”. Tôi muốn nói con tim chân chính, con tim ý thức, tức, sự kiện, là, chúng ta là những gì độc nhất trên toàn vũ trụ, hiểu ý thức chân thực. Chúng ta là những gì độc nhất - gạt tôn giáo qua một bên – chúng ta là những gì độc nhất trên thế gian này biết mùa xuân đang đến.

Jack Gilbert
The Art of Poetry
The Paris Review Interviews, I

Samuel Beckett 

“Personally of course I regret everything.
Not a word, not a deed, not a thought, not a need,
not a grief, not a joy, not a girl, not a boy,
not a doubt, not a trust, not a scorn, not a lust,
not a hope, not a fear, not a smile, not a tear,
not a name, not a face, no time, no place...that I do not regret, exceedingly.
An ordure, from beginning to end.”

[net]

Về phần tôi tất nhiên tôi tiếc rẻ mọi thứ.
Không phải một lời nói, không phải một hành động, không phải
                             một ý nghĩ, không phải một nhu cầu,
không phải một nỗi đau, không phải một niềm vui, không phải
                              một cô, không phải một cậu,
không phải một hoài nghi, không phải một niềm tin, không phải
                             một khinh bỉ, không phải một thèm khát,
không phải một hi vọng, không phải một nỗi sợ, không phải
                             một nụ cười, không phải một giọt lệ,
không phải một tên gọi, không phải một gương mặt, không phải thời gian,
                             không phải nơi chốn... những thứ tôi vô cùng không tiếc rẻ.
Mà là một đống cứt ỉa, từ đầu đến cuối.

HNB dịch (1)

Ông này, cũng 1 đấng bạn quí của GCC, từ hồi Quán Chùa.
Lúc nào gặp mặt cũng khinh khỉnh, Gấu lại nghĩ tính của bạn quí vốn vậy. Phải đến khi ra được hải ngoại, mới ngộ ra bạn quí đếch quí Gấu!

Gấu đã có lần chỉ cho bạn quí thấy, dịch nhảm thơ Brodsky. Dịch nhảm, có thể còn là do chiều theo yêu cầu của VC. Bạn quí đã từng tự hào, người đầu tiên giới thiệu Brodsky với xứ Mít

Đoạn thơ trên, tiếng Mít, có “vấn đề”, không phải do dốt tiếng mũi lõ, mà là tiếng Mít.

“Personally”, “về phần tôi”, thì có tí trật. Mít dùng cụm từ “về phần tôi”, sau, “về phần bạn”.
Dịch, “cá nhân tôi, riêng tôi”, thì được.
“Regret” không phải là tiếc rẻ, mà là tiếc nuối, ân hận
Tiếng Mít tệ hại như thế, thì dù có giỏi tiếng mũi lõ cỡ nào, cũng vứt đi.

Phải về già, thì Gấu mới hiểu ra 1 điều thật quái dị, là, bạn học ngoại ngữ, là để hiểu, làm thâm sâu, kiện toàn tiếng mẹ đẻ của bạn.
Cái đám bạn quí của Gấu này, cũng văn nghệ văn gừng cả 1 đời, mà đời đếch thèm biết đến, sở dĩ như thế, vì chúng học tiếng mũi lõ, để có dịp là chuồn!

Hồi mồ ma tờ Văn, dưới mắt Xìn Phóng, chỉ có đám học Triết, giáo sư Triết, đám học trường Tây, hay, hơn thế nữa, chuồn qua Tẩy, như TTD, ông Tẩy mũi tẹt, là được Người o bế, coi trọng.
Ông không ưa Gấu, thằng đó mà tiếng Tây gì, vậy mà bày đặt tiểu thuyết mới, hiện sinh, Sartre, Camus.

NDT là người giới thiệu Gấu với tờ Văn. Lúc đó, Gấu đang viết cho tờ Nghệ Thuật, thời gian VL thay thế Thanh Nam làm tổng thư ký. Gấu nhớ là, anh tự động ghé bàn Gấu, khi đang ngồi ăn phở 44 Phan Đình Phùng, phía bên kia đường là Đài Phát Thanh Sài Gòn, xưng tên, và đề nghị viết cho Văn. Gấu bèn đi hỏi ý kiến NTaV và thi sĩ “Cao Thọi Trâu”, cả hai bèn phán, hỏi cái gì nữa, viết chứ, tại sao không?

Hà, hà!

*

Địa chỉ [số nhà số điện thoại] của BHD
Thiếu email-address! 

...  như những lần lang thang nơi khu phố nàng ở, (gần một ngã sáu, khu trung tâm thành phố, sinh hoạt đông đảo, một cửa tiệm bán sách vở, dụng cụ văn phòng, nàng thường ngồi sau một chiếc bàn lớn ở gần phía bên ngoài, gần cửa ra vào, phóng xe qua thật nhanh, hơi nhìn ngang, có thể thoáng thấy nàng ngồi chăm chú, viết, hoặc lơ đãng nhìn ra bên ngoài, làm sao nàng có thể nhận ra...), hoặc ghé xe bên lề đường, mua tờ báo, bao thuốc, hoặc ngồi uống cà phê ở quán Tầu phía bên kia đường, ngó những đứa trẻ đánh giầy chia nhau tiền bạc, giành giật khách, hay mẩu thuốc, khi ra về thường quá khuya, vòng xe qua con đường phía sau nhà nàng, ngó nhìn lên, có thể bóng dáng nàng sẽ hiện ra nơi khung cửa sổ trên lầu cao, che bớt ánh đèn lạnh toát, thỉnh thoảng bị mưa, ướt sũng, run lập cập, cần nhất là không bao giờ kể lể than khóc với nàng về ba chuyện đó, và nàng cũng chẳng bao giờ biết, hoặc hiểu được, nàng đến từ phía bắc, từ một thành phố có mưa phùn, có gió bấc, có rét mướt, băng giá, và nàng mang theo cùng với nàng chút giá băng, lạnh lùng, một chút tẻ nhạt, nàng đứng ở bên ngoài đời sống cô đơn, rực lửa, quạnh hiu của tôi, ở ngoài những nao nức, những băn khoăn, những mơ mộng của cả một thời niên thiếu, ở ngoài sự kiêu ngạo muốn đạp đổ tất cả, muốn xua đẩy nỗi giá băng, lòng lo lắng sợ sệt, muốn được nàng an ủi, vỗ về, nàng đứng ở đâu đó ở bên ngoài cuộc đời của tôi, như một người đứng ở chỗ sáng ngó vào chỗ tối, nàng không thể thấy, không thể biết, nhưng thôi, thôi, Ngọc, Ngọc, cố gắng quên đi, cố gắng đừng thủ dâm nữa, đừng nói gì cả....

Mùa Hè Miền Nam

*

Trương Như Tảng
 Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp trong Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam (VC)
Vài bí mật chưa được tiết lộ về Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/29182933591/in/photostream/

minhduc7.blogspot.com/2013/04/vai-bi-mat-chua-uoc-tiet-lo...


Ba ông hòa bình được phái đoàn miền Bắc đón tiếp ở cầu Hiền Lương, sông Bến Hải . Bác sĩ Phạm Văn Huyến mang số 1, Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ mang số 2, ký giả Cao Minh Chiếm mang số 3
Theo như GCC được biết, Cao Minh Chiếm là bà con của bà xã TTT, Cao Thị Mai Hoa.




https://phanquynhtram.com/2014/02/28/ke-tongpham/

Nh
ân nói về "không thừa, không thiếu."

Bài thơ sau đây, Tin Văn đã từng dịch.
Bản dịch mói thấy trên net, của PQT, cho thấy, dịch giả để cả nguyên tác tiếng Tây Bán Nhà. Do không biết thứ tiếng này, nên thua.
Nhưng nếu chỉ so với bản tiếng Anh, thì... thua bản của GCC!  
PQT bỏ từ "precise", chính xác";
"crucify" không phải là "đóng đinh", mà là "đóng đinh thập tự"!
Bỏ tên dịch giả tiếng Anh. Phải cho biết ai dịch, vì có rất nhiều người dịch thơ/văn của Borges
Đảo ngược trật tự từ: "cây thập tự & những cái đinh", không phải "đinh & thập giá"
Quá cẩ
u thả (b), không rành tiếng Mít.
Không tôn trọng dịch giả khác...


(b)

Sự may mắn hay bất hạnh của tôi cũng chẳng có gì quan trọng [PQT]
Tại sao lại "cũng" ở đây?
Quá quan trọng, mới đúng, bởi là vì sau đó, Borges giải thích:
Tớ là thi sĩ!


The Accomplice

They crucify me. I have to be the cross, the nails.
They hand me the cup. I have to be the hemlock.
They trick me. I have to be the lie.
They burn me alive. I have to be that hell.
I have to praise and thank every instant of time.
My food is all things.
The precise weight of the universe. The humiliation, the rejoicing.
I have to justify what wounds me.
My fortune or misfortune does not matter.
I am the poet.
-H.R.

Kẻ đồng lõa

Chúng đóng đinh thập giá tôi. Tôi phải là cây thập tự, những cái đinh.
Chúng đưa tôi cái ly. Tôi phải là thuốc độc
Chúng đánh lừa tôi. Tôi phải là lời dối trá
Chúng thiêu sống tôi. Tôi phải là cái địa ngục đó.
Tôi phải vinh danh, xoa đầu chúng, và lúc nào cũng phải cám ơn chúng lia chia.
Thức ăn của tôi là mọi thứ, mọi điều.
Sức nặng đích thực của vũ trụ. Sự lăng nhục. Niềm vui mừng.
Tôi phải xác minh điều làm tôi thương tổn.
May mắn, hay bất hạnh của tôi chẳng là cái chó gì ở đây.
Tôi là thi sĩ

[NQT]

Kẻ tòng phạm

Người ta đóng đinh tôi. Tôi phải là đinh, là thập tự giá.
Người ta đưa tôi một cái chén. Tôi phải là thuốc độc.
Người ta lừa tôi. Tôi phải là lời nói dối.
Người ta thiêu sống tôi. Tôi phải là địa ngục.
Tôi phải ca tụng và cám ơn từng giây từng phút.
Thực phẩm của tôi là mọi thứ.
Toàn bộ sức nặng của vũ trụ. Sự sỉ nhục, sự vui mừng.
Tôi phải biện chính cho những gì làm tôi thương tổn.
Sự may mắn hay bất hạnh của tôi cũng chẳng có gì quan trọng.
Tôi là nhà thơ.
 —–
Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm.
Trong Jorge Luis Borges, Jorge Luis Borges: Selected Poems (New York: Penguin Books, 1999), 455.


Dear Gấu Nhà Văn,
Trong bài hát "Ly Rượu Mừng" có câu "Nhấc chén đầy vơi chúc người người vui..."

Tôi phải ngợi ca và cảm ơn từng phút giây (tôi đang sống, bất luận sướng khổ ra sao), không phải ngợi ca hay cảm ơn "bọn đó".
Tôi phải biện minh cho cả những điều đã làm tổn thương tôi. Không phải xác minh mà là biện hộ giùm cho cái kẻ làm hại mình, khổ thế?
Nói chung, tôi là thi sĩ, để làm được ra thơ, hay chỉ cần được thì thầm trong câm nín với Nàng Thơ thôi, thì cái gì tôi cũng chịu được, kể cả bị đóng đinh. ??

Bác Gấu dịch "Call for the Dead" hay quá sao không dịch trọn quyển nhỉ? Kính chúc an vui.
H.Â.
Sent from my iPad

Today at 5:51 PM

Tks
How Are You?
Tính dịch cho H/A đọc, vì có hứa, nhưng lu bu quá.
Mua lại cuốn sách là vậy.
Take Care
NQT

Re: Bản dịch của tôi, cũng có lỗi.
Tks again
NQT

http://www.tanvien.net/Viet/Bolano_Trong_ngoac.html

Thơ của Borges, bị Naipaul và nhiều người khác, chê.