Thích Nhất Hạnh, thi sĩ Phật Giáo

Bài viết này, là của TNH, Gấu do mua dài hạn tờ báo bèn post ở đây, và sẽ dịch liền, và có nếu có thể sẽ lèm bèm thêm về Ngài.

Pix [net]
Robert Frost, why?
Bài tiểu luận "On Grief and Reason" làm tựa đề cho cả tập, của Brodsky, là về Frost.
Câu thơ của Frost mà Brodsky mê, như bài viết "Con Sói Cô Đơn của Thơ" của Volkov trích dẫn, "Cách đẹp nhất sống đời bạn, là đợp sạch nó", tạm dịch câu, "The best way out is always through".
Theo Gấu, mấy đấng như TCS, Nhất Hạnh, Phạm Công Thiện, và nhiều vị khác, có thể nói, toàn bộ đám trí thức Miền Nam, đã không dám sống trọn đời của họ, theo như câu thơ của Frost phán, mà, bỏ chạy nó, bằng cách này, các khác, trốn vô chùa, nhà thờ, trốn ra nước ngoài, bằng du học... Cách tốt nhất của chúng là chọn VC, chọn bên thắng, chọn phản chiến...
Phải để cho cuộc đời cầy nát bấy đời của bạn, và sau đó, sống sót, tái sinh, như con phượng hoàng sống lại từ tro than của nó.


A Buddhist Poet in Vietnam
Thich Nhat Hanh
June 9, 1966 issue
The essay and poems that follow are by the Buddhist monk Thich Nhat Hanh, the Director of the School for Social Studies in Saigon and one of the most popular poets in Vietnam. The poems were translated by Nhat Hanh himself and the essay was written by him when he arrived in New York in the middle of May to lecture on the Vietnam crisis and on the work of the School of Youth for Social Service he describes below.
Nhat Hanh was born in 1926 in Dalat and became a novice at sixteen. He was a student of literature and philosophy at Saigon University and of the philosophy of religion at Princeton in 1961. He lectured on Buddhism at Columbia in 1963 and then returned to Saigon to play a leading role in the Buddhist political and social movement. He is Editor of the principal Buddhist weekly paper and the author of ten books, including Oriental Logic, Actualized Buddhism, and Engaged Buddhism. He also contributed a letter, “In Search of the Enemy of Man,” addressed to Martin Luther King, to the symposium Dialogue, which reflects the attempt of young Buddhists to formulate a synthesis of Buddhism and existentialism appropriate to the problems of Vietnam.

NYRB

***
The few poems published here are not typical of my own poetry or of Vietnamese poetry generally. The tradition of poetry in Vietnam is very old and complex. It draws on early Chinese poetry, on the French Romantic and symbolist poets of the nineteenth and twentieth centuries, and, in my own case, on Zen Buddhist writers. Much of my poetry could be called “philosophical” and friends have found it in some ways similar to the work of Tagore: at least, it is extremely difficult to translate it into English.
But the poems published here are different. They are popular poems in free verse and when I write them I feel I am trying to speak very simply for the majority of Vietnamese who are peasants and cannot speak for themselves; they do not know or care much about words like communism or democracy but want above all for the war to end so they may survive and not be maimed or killed. I wrote the poems first for myself; when I read them over I can regain once more the state of intense feeling in which I composed them. But they have now been read and heard by many Vietnamese; and they have been denounced by both sides fighting in the war. A few days after they were published last year government police came to seize them from the bookstores, but by then they had all been sold. They were attacked by the Hanoi radio and by the radio of the National Liberation Front. They have since been read in public along with the peace poems of other Buddhists and they have been sung with guitar accompaniment at student meetings, much as songs of protest are sung in the United States.

Vài bài thơ đăng ở đây không phải là tiêu biểu cho thơ tôi hay thơ Việt Nam nói chung. Truyền thống thơ ca ở Việt Nam rất lâu đời và phức tạp. Nó dựa trên thơ ca thời kỳ đầu của Trung Quốc, về các nhà thơ lãng mạn và biểu tượng của Pháp thế kỷ 19 và 20, và, trong trường hợp của tôi, về các nhà văn Phật giáo Thiền. Phần lớn thơ của tôi có thể được gọi là “triết học” và bạn bè đã nhận thấy nó theo một số cách tương tự như tác phẩm của Tagore: ít nhất, rất khó để dịch nó sang tiếng Anh. Nhưng những bài thơ được xuất bản ở đây thì khác. Đó là những bài thơ được phổ thơ tự do và khi viết chúng tôi cảm thấy mình đang cố gắng nói rất đơn giản cho đa số người Việt Nam là nông dân và không thể nói cho chính mình; họ không biết hoặc không quan tâm nhiều đến những từ như chủ nghĩa cộng sản hay dân chủ nhưng trên hết họ muốn chiến tranh kết thúc để họ có thể sống sót và không bị tàn sát hoặc bị giết. Tôi đã viết những bài thơ đầu tiên cho chính mình; khi tôi đọc lại chúng, tôi có thể lấy lại một lần nữa trạng thái của cảm giác mãnh liệt mà tôi đã sáng tác chúng. Nhưng giờ đây chúng đã được nhiều người Việt Nam đọc và nghe; và họ đã bị tố cáo bởi cả hai bên đang chiến đấu trong chiến tranh. Vài ngày sau khi chúng được xuất bản vào năm ngoái, cảnh sát chính phủ đã đến thu giữ chúng từ các hiệu sách, nhưng sau đó chúng đã được bán hết. Họ đã bị đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tấn công. Kể từ đó, chúng đã được đọc trước công chúng cùng với những bài thơ hòa bình của các Phật tử khác và chúng đã được hát với phần đệm guitar trong các buổi họp mặt sinh viên, giống như các bài hát phản đối được hát ở Hoa Kỳ.
I RISK MY LIFE publishing these poems. Other Buddhists who have protested the war have been arrested and exiled, and now they are being killed in Danang. It was because of this great risk that the Buddhists who demonstrated this spring were reluctant to advocate openly an end to the war through negotiations: instead they called for elections and democracy. We have been placed in an impossible dilemma. If we openly call for peace, we are identified with the Communists and the government will try to suppress us. If we criticize the Communists, we find ourselves allied with those Vietnamese who have been the paid propagandists of the Americans for years and whose words against Communism are soiled and discredited because they have been paid to say them. To be honorably anti-Communist has been to remain silent, and, being silent, we have been called innocent of the dangers of Communism; but we are not. We are very well aware of the restrictions on Buddhism in the North. We have studied what has happened in China. We know there is no place for spirituality in Marxism. We are ready to undertake a peaceful political struggle with the Communists if only the destruction of the war can be stopped. We are confident that the South Vietnamese can protect themselves from Communist domination if they are allowed to carry on their political life in peace.

TÔI RỦI RO CUỘC SỐNG CỦA TÔI xuất bản những bài thơ này. Những Phật tử khác phản đối chiến tranh đã bị bắt và lưu đày, và bây giờ họ đang bị giết ở Đà Nẵng. Chính vì nguy cơ lớn này mà các Phật tử biểu tình vào mùa xuân này đã miễn cưỡng chủ trương công khai chấm dứt chiến tranh thông qua đàm phán: thay vào đó họ kêu gọi bầu cử và dân chủ. Chúng tôi đã bị đặt vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan không thể. Nếu chúng tôi công khai kêu gọi hòa bình, chúng tôi đã đồng nhất với Cộng sản và chính phủ sẽ cố gắng đàn áp chúng tôi. Nếu chúng ta chỉ trích những người Cộng sản, chúng ta thấy mình đang liên minh với những người Việt Nam đã từng là tuyên truyền viên được trả tiền của người Mỹ trong nhiều năm và những lời nói chống lại Chủ nghĩa Cộng sản đã trở nên bẩn thỉu và mất uy tín vì họ đã được trả tiền để nói chúng. Để chống Cộng một cách danh dự là phải giữ im lặng, và im lặng, chúng ta được gọi là vô tội trước những nguy cơ của Chủ nghĩa Cộng sản; nhưng chúng tôi không. Chúng tôi nhận thức rất rõ về những hạn chế đối với Phật giáo ở miền Bắc. Chúng tôi đã nghiên cứu những gì đã xảy ra ở Trung Quốc. Chúng tôi biết không có chỗ cho tâm linh trong chủ nghĩa Mác. Chúng tôi sẵn sàng tiến hành một cuộc đấu tranh chính trị hòa bình với Cộng sản nếu chỉ có thể chấm dứt được sự tàn phá của chiến tranh. Chúng tôi tin tưởng rằng miền Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ mình khỏi sự thống trị của Cộng sản nếu họ được phép tiếp tục cuộc sống chính trị của mình trong hòa bình.

The tragedy of American policy is that it has made such a peaceful political struggle all the more difficult. For the Americans could have helped to reconstruct the country peacefully if they had cooperated with, and strengthened, the Buddhists and others who had the respect of the people. Instead they tried to divide the Buddhists and prevent them from becoming an organized force. This was disastrous. Catholicism came to Vietnam with the French and the Catholic leaders backed by the United States were suspect from the first; the Buddhist tradition is closely linked with nationalism and it is unthinkable to the broad mass of the people that the Buddhists would betray them to a foreign power. At the same time, Vietnamese Buddhism is syncretic in character; there are Catholic priests who are closer to us on the question of peace than some Buddhist priests who are old and have lost courage. (A few months ago, eleven Catholic priests issued a strong statement calling for peace. They were attacked by the Catholic leaders.)
NOW THE UNITED STATES has become too afraid of the Communists to allow a peaceful confrontation with them to take place; and when you are too afraid you cannot win. Sending 300,000 American troops to Vietnam and bombing the countryside have only caused the Communists to grow stronger. American military operations have killed and wounded more innocent peasants than Vietcong, and the Americans are blamed and hated for this. The peasants are not violently antagonistic to the Vietcong: The strong anti-Communists are mostly people in the cities who fear loss of their property, cars, businesses, and homes, and rely on the foreign army to protect them. The American soldiers, moreover, are not well educated and do not understand the Vietnamese: Every G.I. will make a small mistake that offends a Vietnamese every day, even when he is not drunk or in search of women—at least 300,000 mistakes a day. And the continual roaring overhead of planes on their way to drop bombs makes people sick and mad.

Bi kịch trong chính sách của Mỹ là nó đã làm cho một cuộc đấu tranh chính trị hòa bình như vậy càng trở nên khó khăn hơn. Vì người Mỹ có thể đã giúp tái thiết đất nước một cách hòa bình nếu họ hợp tác và củng cố, những Phật tử và những người khác được người dân tôn trọng. Thay vào đó, họ cố gắng chia rẽ các Phật tử và ngăn họ trở thành một lực lượng có tổ chức. Điều này thật tai hại. Công giáo đến Việt Nam cùng với người Pháp và các nhà lãnh đạo Công giáo được Hoa Kỳ hậu thuẫn đã bị nghi ngờ ngay từ đầu; truyền thống Phật giáo gắn liền với chủ nghĩa dân tộc và không thể tưởng tượng được đối với đông đảo nhân dân rằng các Phật tử lại phản bội họ cho một thế lực ngoại bang. Đồng thời, Phật giáo Việt Nam mang tính đồng bộ; có những linh mục Công giáo gần gũi với chúng ta hơn về vấn đề hòa bình hơn là một số linh mục Phật giáo đã già và mất can đảm. (Vài tháng trước, 11 linh mục Công giáo đã đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ kêu gọi hòa bình. Họ đã bị tấn công bởi các nhà lãnh đạo Công giáo.) BÂY GIỜ HOA KỲ đã trở nên quá sợ hãi trước những người Cộng sản để cho phép một cuộc đối đầu hòa bình với họ diễn ra; và khi bạn quá sợ hãi, bạn không thể chiến thắng. Việc gửi 300.000 lính Mỹ đến Việt Nam và ném bom vùng nông thôn chỉ khiến Cộng sản ngày càng lớn mạnh hơn. Các hoạt động quân sự của Mỹ đã giết và làm bị thương nhiều nông dân vô tội hơn Việt Cộng, và người Mỹ bị đổ lỗi và căm thù vì điều này. Nông dân không chống lại Việt Cộng một cách thô bạo: Những người chống Cộng mạnh mẽ hầu hết là những người ở thành phố sợ mất tài sản, xe cộ, cơ nghiệp và nhà cửa, và dựa vào quân đội nước ngoài để bảo vệ họ. Lính Mỹ, hơn nữa, không được giáo dục tốt và không hiểu người Việt Nam: Mỗi G.I. sẽ phạm một lỗi nhỏ khiến người Việt Nam xúc phạm mỗi ngày, kể cả khi anh ta không say hoặc khi tìm kiếm phụ nữ — ít nhất 300.000 lỗi mỗi ngày. Và tiếng máy bay gầm rú liên tục trên đường thả bom khiến người ta phát điên.

So it is understandable that the people in the villages distrust those who are connected with the government and the Americans. Along with others, I have organized a Buddhist School of Youth for Social Service at Cholon to train teams of young people to work at “community development” in the villages. About two hundred have already been trained. We have refused to accept money from the government or the American Military Assistance Group. That would have been ruinous. Instead 1,200 Buddhists each contributed the small sum of fifty piastres to start the school in a Buddhist convent. We went into the villages carrying no weapons, owning nothing of our own but our robes, and have been welcomed. The peasants we have worked with tell us that the government officials assigned to “assist” them kept thousands of piastres a month for themselves and did nothing for them. They have come to dislike the Vietcong and they fear the Americans, whose artillery, bombardments have fallen upon them.
If the United States wants to escalate the war, nothing that the Vietnamese can do will matter. A change of government will make no difference. The war will go on. The Buddhist leader Thich Tri Quang believes that we may attain peace indirectly by means of political maneuvering and through elections. He is a man of action, and of courage and intelligence, whose life is good: he is not bound by money. But there are other Buddhists who have chosen a less “activist” political role who have high prestige and whose views will also be influential. There is, for example, the group of young monks and writers who publish the magazines Giu Thom Que Me (To Help the Motherland) and Thien My and other publications of the La Boi publishing house in Saigon, and who are trying to create a new Buddhist ideology emphasizing ways of helping the people who live on the land.
I DOUBT myself that much will be gained by indirect political maneuvering against the government and the Catholics, so long as the United States is determined to continue the war. Underlying the struggles with the government in Danang and other cities is the unstated question whether the war will go on; and this the United States will decide. I believe that the most effective thing we can do is to follow the open and direct way of advocating peace, however dangerous this may be, by telling the world that we do not accept this war; that the Communists grow stronger each day it is fought; that a cease fire must be arranged with the Vietcong as soon as possible; that we would then welcome the help of Americans in the peaceful reconstruction of Vietnam. Only America can stop this war which is destroying not only our lives, but our culture and everything of human value in our country.
Nếu Hoa Kỳ muốn leo thang chiến tranh, thì việc người Việt Nam có thể làm sẽ không thành vấn đề. Một sự thay đổi của chính phủ sẽ không có gì khác biệt. Chiến tranh sẽ tiếp tục. Nhà lãnh đạo Phật giáo Thích Trí Quang tin rằng chúng ta có thể đạt được hòa bình một cách gián tiếp bằng các biện pháp điều động chính trị và thông qua bầu cử. Anh ấy là một người hành động, can đảm và thông minh, có cuộc sống tốt đẹp: anh ấy không bị ràng buộc bởi tiền bạc. Nhưng có những Phật tử khác đã chọn một vai trò chính trị ít “hoạt động” hơn nhưng có uy tín cao và quan điểm của họ cũng sẽ có ảnh hưởng. Ví dụ, có một nhóm các nhà sư và nhà văn trẻ xuất bản các tạp chí Giơ Thơm Quê Tôi (Giúp Quê Hương) và Thiện Mỹ và các ấn phẩm khác của nhà xuất bản Lá Bối ở Sài Gòn, và những người đang cố gắng tạo ra một tạp chí mới. Hệ tư tưởng Phật giáo nhấn mạnh cách giúp đỡ những người sống trên đất. Bản thân tôi TỰ TIN rằng phần lớn sẽ thu được bằng các hoạt động chính trị gián tiếp chống lại chính phủ và người Công giáo, miễn là Hoa Kỳ quyết tâm tiếp tục chiến tranh. Ẩn sau các cuộc đấu tranh với chính quyền ở Đà Nẵng và các thành phố khác là câu hỏi chưa được đặt ra liệu chiến tranh có tiếp diễn hay không; và điều này Hoa Kỳ sẽ quyết định. Tôi tin rằng điều hiệu quả nhất mà chúng ta có thể làm là tuân theo đường lối ủng hộ hòa bình cởi mở và trực tiếp, dù điều này có thể nguy hiểm đến đâu, bằng cách nói với thế giới rằng chúng ta không chấp nhận cuộc chiến này; rằng Cộng sản lớn mạnh hơn mỗi ngày nó được chiến đấu; rằng việc ngừng bắn phải được dàn xếp với Việt Cộng càng sớm càng tốt; rằng chúng tôi hoan nghênh sự giúp đỡ của người Mỹ trong công cuộc tái thiết hòa bình ở Việt Nam. Chỉ có Mỹ mới có thể ngăn chặn cuộc chiến đang tàn phá không chỉ cuộc sống của chúng ta, mà còn cả nền văn hóa và mọi thứ có giá trị của con người trên đất nước chúng ta.

CONDEMNATION

Listen to this:
Yesterday six Vietcong came through my village.
Because of this my village was bombed—completely destroyed.
Every soul was killed.
When I come back to the village now, the day after,
There is nothing to see but clouds of dust and the river, still flowing.
The pagoda has neither roof nor altar.
Only the foundations of houses are left.
The bamboo thickets are burned away.
Here in the presence of the undisturbed stars,
In the invisible presence of all the people still alive on earth,
Let me raise my voice to denounce this filthy war,
This murder of brothers by brothers!
I have a question: Who pushed us into this killing of one another?
Whoever is listening, be my witness!
I cannot accept this war.
I never could, I never shall.
I have to say this a thousand times before I am killed.
I feel I am like that bird which dies for the sake of its mate
Dripping blood from its broken beak, and crying out:
Beware! Turn around to face your real enemies—
Ambition, violence, hatred, greed.
Men cannot be our enemies—even men called “Vietcong”!
If we kill men, what brothers will we have left?
With whom shall we live then?
PEACE

They woke me this morning
To tell me my brother had been killed in battle.
Yet in the garden, uncurling moist petals,
A new rose blooms on the bush.
And I am alive, can still breathe the fragrance of roses and dung,
Eat, pray, and sleep.
But when can I break my long silence?
When can I speak the unuttered words that are choking me?
OUR GREEN GARDEN

Fires spring up like dragon’s teeth at the ten points of the universe.
A furious acrid wind sweeps them toward us from all sides.
Aloof and beautiful, the mountains and rivers abide.
All around, the horizon burns with the color of death.
As for me, yes, I am still alive,
But my body and the soul in it writhe as if they too had been
set afire.My parched eyes can shed no more tears.
Where are you going this evening, dear brother, in what direction?
The rattle of gunfire is close at hand.
In her breast, the heart of our mother shrivels and fades like a dying
flower.She bows her head, the smooth black hair now threaded with white.
How many nights, night after night, has she crouched wide-awake,
Alone with her lamp, praying for the storm to end?
Dearest brother, I know it is you who will shoot me tonight,
Piercing our mother’s heart with a wound that can never heal.
O terrible winds that blow from the ends of the earth
To hurl down our houses and blast our fertile fields!
I say farewell to the blazing, blackening place where I was born.
Here is my breast! Aim your gun at it, brother, shoot!
I offer my body, the body our mother bore and nurtured.
Destroy it if you will,
Destroy it in the name of your dream,
That dream in whose name you kill.
Can you hear me invoke the darkness:
“When will these sufferings end,
O darkness, in whose name you destroy?”
Come back, dear brother, and kneel at our mother’s feet.
Don’t make a sacrifice of our dear green garden
To the ragged flames that are carried into the dooryard
By wild winds from far away.
Here is my breast. Aim your gun at it, brother, shoot!
Destroy me if you will
And build from my carrion whatever it is you are dreaming of.
Who will be left to celebrate a victory made of blood and fire?
—Nhat Hanh

CONDEMNATION

Nghe này:
Hôm qua sáu Việt Cộng đến làng tôi.
Vì điều này mà làng của tôi đã bị đánh bom - bị phá hủy hoàn toàn.
Mọi linh hồn đều bị giết.
Khi tôi trở lại làng ngay bây giờ, ngày kia,
Không có gì để nhìn thấy ngoài những đám mây bụi và dòng sông, vẫn chảy.
Chùa không có mái che, bàn thờ.
Chỉ còn lại nền móng của những ngôi nhà.
Những bụi tre bị đốt sạch.
Ở đây với sự hiện diện của những ngôi sao không bị xáo trộn,
Trước sự hiện diện vô hình của tất cả những người vẫn còn sống trên trái đất,
Hãy để tôi lên tiếng tố cáo cuộc chiến bẩn thỉu này,
Điều này giết anh em của anh em của anh em!
Tôi có một câu hỏi: Ai đã đẩy chúng ta vào cuộc giết chóc lẫn nhau này?
Ai đang nghe, hãy là nhân chứng của tôi!
Tôi không thể chấp nhận cuộc chiến này.
Tôi không bao giờ có thể, tôi sẽ không bao giờ.
Tôi phải nói điều này một nghìn lần trước khi tôi bị giết.
Tôi cảm thấy mình giống như con chim chết vì người bạn đời của nó
Chảy máu từ cái mỏ bị gãy của nó, và kêu lên:
Hãy coi chừng! Quay lại để đối mặt với kẻ thù thực sự của bạn—
Tham vọng, bạo lực, hận thù, tham lam.
Đàn ông không thể là kẻ thù của chúng ta — ngay cả những người được gọi là “Việt Cộng”!
Nếu chúng ta giết người, chúng ta sẽ còn lại những người anh em nào?
Sau đó chúng ta sẽ sống với ai?
HÒA BÌNH

Họ đã đánh thức tôi sáng nay
Nói cho tôi biết anh trai tôi đã bị giết trong trận chiến.
Tuy nhiên, trong vườn, những cánh hoa ẩm ướt,
Một bông hồng mới nở trên bụi cây.
Và tôi vẫn còn sống, vẫn có thể hít thở hương thơm của hoa hồng và phân,
Ăn, cầu nguyện và ngủ.
Nhưng khi nào tôi có thể phá vỡ sự im lặng bấy lâu của mình?
Khi nào tôi có thể nói những lời không nói nên lời đang làm tôi nghẹt thở?
VƯỜN XANH CỦA CHÚNG TÔI

Lửa bốc lên như răng rồng ở mười điểm của vũ trụ.
Một cơn gió chát dữ dội quét chúng về phía chúng tôi từ mọi phía.
Một mình và xinh đẹp, núi và sông ở lại.
Xung quanh, chân trời bừng lên một màu chết chóc.
Còn tôi, vâng, tôi vẫn còn sống,
Nhưng cơ thể tôi và linh hồn trong đó quằn quại như thể chúng cũng đã từng
đôi mắt khô khốc của tôi không thể rơi nước mắt nữa.
Tối nay anh đi đâu, anh ơi, theo hướng nào?
Tiếng súng nổ gần trong tầm tay.
Trong bầu ngực của mẹ, trái tim của mẹ chúng tôi co rút và tàn lụi như sắp chết
Nàng cúi đầu, mái tóc đen mượt nay đã điểm thêm sợi trắng.
Đã bao nhiêu đêm, đêm này qua đêm khác, cô ấy đã trằn trọc mãi,
Một mình với ngọn đèn của cô ấy, cầu mong cho cơn bão kết thúc?
Người anh em thân yêu nhất, tôi biết chính anh sẽ bắn tôi đêm nay,
Đâm vào trái tim mẹ của chúng ta một vết thương không bao giờ lành.
Hỡi những cơn gió khủng khiếp thổi từ tận cùng trái đất
Để ném sập nhà của chúng tôi và phá hủy những cánh đồng màu mỡ của chúng tôi!
Tôi xin vĩnh biệt nơi rực cháy, đen đủi, nơi tôi đã sinh ra.
Vú em đây! Hãy nhắm súng của bạn vào nó, anh em, bắn!
Tôi xin dâng thân thể của tôi, cơ thể mà mẹ chúng tôi đã cưu mang và nuôi dưỡng.
Hãy phá hủy nó nếu bạn muốn,
Hãy phá hủy nó nhân danh giấc mơ của bạn,
Giấc mơ đó do tên của ai mà bạn giết.
Bạn có nghe thấy tôi gọi bóng tối không:
“Khi nào thì những đau khổ này mới kết thúc,
Hỡi bóng tối, ngươi nhân danh ai mà tiêu diệt? ”
Hãy trở lại, người anh em thân yêu, và quỳ dưới chân mẹ của chúng ta.
Đừng hy sinh khu vườn xanh thân yêu của chúng ta
Để những ngọn lửa tàn khốc được đưa vào kho lưu trữ
Bằng những cơn gió hoang vu từ phương xa.
Đây là vú của tôi. Hãy nhắm súng của bạn vào nó, anh em, bắn!
Hãy tiêu diệt tôi nếu bạn muốn
Và xây dựng từ xác chết của tôi bất cứ điều gì bạn đang mơ ước.
Ai sẽ còn lại để ăn mừng chiến thắng bằng máu và lửa?
—Nhat Hanh

Trans. Google



Hồi đọc Cửa Tùng Đôi Cánh Gài của Nhất Hạnh, khi nó mới ra lò, Gấu còn trẻ măng, "chàng" cứ nghĩ, chuyện Phật Giáo. Về già, mới vỡ ra, đây là nói về một anh chàng... VC, từ biệt thầy, là Marx, hạ sơn, đi tìm quỉ để giết, trừ hại cho dân lành, cuối cùng khám phá ra, chính mình mới là quỉ, do tu luyện chưa tới nơi, hiểu sai Marx.
Kính chiếu yêu, là lý thuyết, là tinh tuý của chủ nghĩa Marx. Cây gươm thần, đám đệ tử Marx không kiếm ra, vì bị Rùa Thần ở Hồ Gươm mang đi tuyệt tích giang hồ. Không có gươm thần thì đành thay thế bằng tra tấn, bằng khủng bố.
*
Torture, writes Améry, has "an indelible character". Whoever was tortured, stays tortured.
Sebald: Chống Lại Sự Không Thể Đảo Ngược: Về Jean Améry, trong Lịch sử tự nhiên về huỷ diệt [Against the Irreversible. On Jean Améry. On the natural history of destruction, nhà xb Vintage Canada].
Améry viết, tra tấn có cái tính quái dị, không thể tẩy xoá đi được, là: Ai đã từng bị tra tấn, là suốt đời bị tra tấn.
Câu này, theo Gấu tôi, đọc [đảo] ngược lại, vẫn có nghĩa.
Rằng, kẻ tra tấn, là cứ thèm tra tấn suốt đời

****

CỬA TÙNG ÐÔI CÁNH GÀI

HT. Nhất Hạnh

 
Khi chàng dũng sĩ về đến chân núi thì trăng cũng vừa lên. Trăng mười chín soi sáng cảnh núi rừng cô tịch. Ánh trăng nhấp nháy đùa giỡn trên lá cây.  Ðêm thu mát lạnh. Cảnh vật hình như không có gì đổi thay sau bảy năm xa cách. Cảnh vật tuy không xa lạ, nhưng cũng không thân mật chào đón người cũ từ phương lạ trở về. Chàng dũng sĩ dừng lại ở chân núi, nhìn lên. 

Trước mặt chàng, con đường mòn lên núi đã bị đôi cánh cửa tùng khép chặt. Chàng đưa tay cố đẩy. Nhưng hai cánh cửa kiên cố vẫn im lìm không lay chuyển dưới sức mạnh của đôi cánh tay chàng. Chàng lấy làm lạ. Ngày xưa chẳng bao giờ sư phụ chàng lại cho đóng chặt cửa lên núi như thế nà. Chỉ có một con đường đưa tới am sư phụ mà thôi, nhưng bây giờ lại bị đóng chặt.. Hớn hở chàng vỗ tay vào đốc kiếm, phi thân nhảy qua. Nhưng chàng không nhảy qua khỏi. Một mãnh lực gì níu lấy thân chàng trở lại, khiến chàng không cất mình lên khỏi hai cánh cửa tùng. Chàng rút gươm định chém rời cánh cửa. Nhưng khi chạm tới cánh cửa, lưỡi gươm văng trở lại như vừa chạm vào thép cứng. Chàng chùn tay, đưa lưỡi gươm lên nhìn. Lưỡi thép sáng loáng dưới ánh trăng. Cánh cửa tùng rắn quá, và hình như đã thu nhận thần lực của sư phụ chàng, nên đã đóng kín đường mòn lại một cách hết sức vững chãi. Chàng thở dài cho gươm vào vỏ rồi ngồi phịch xuống tấm đá lớn gần bên, ôm đầu nghĩ ngợi. Bảy năm về trước, chàng còn nhớ rõ khi chàng xuống núi, sư phụ chàng đã lặng lẽ nhìn chàng một hồi lâu, không nói năng gì. Cái nhìn của Người tuy dịu dàng nhưng có lẫn đôi chút xót thương. Chàng đã cúi đầu im lặng trước đôi mắt dịu hiền và cái nhìn bao dung của sư phụ. Hồi lâu Người mới thong thả bảo chàng:  

-"Ta không thể giữ con ở mãi bên ta. Thế nào con cũng phải xuống núi để hành đạo, để cứu người và giúp đời. Ta cho rằng con có thể ở lại cùng ta trong một thời gian nữa trước khi con rời ta xuống núi. Nay con đã muốn xuống thì con cứ xuống. Nhưng con ạ, ta mong con nhớ những điều ta dặn khi con đã đi vào cuộc sống đồng sự và lợi hành." Rồi Người cặn kẻ dặn chàng về những điều chàng nên tránh, và về những điều chàng nên làm. Sau hết, Người từ tốn và dịu dàng để tay trên vai chàng: 
- "Con phải nhớ những tiêu chuẩn hành động mà ta đã truyền thọ cho con trong năm sáu năm trời học tập. Chớ bao giờ làm một việc gì có thể gây khổ đau cho mình và cho kẻ khác, trong hiện tại cũng như trong tương lai. Hãy tiến bước mạnh dạn trên con đường mà con chắc có thể đưa con và mọi người về nơi giác ngộ. Nên nhớ muôn đời những tiêu chuẩn khổ vui và mê ngộ mà hành Ðạo, độ Ðời. Thanh bảo kiếm mà ta đã trao cho con, con hãy sử dụng nó để diệt trừ ma chướng. Hãy xem đó như lưỡi gươm trí tuệ nơi tâm con sẽ dùng để hàng phục mê chướng và si vọng. Nhưng để giúp con, ta cho con thêm một bảo bối này để con có thể thành tựu công quả một cách dễ dàng." 
Người thong thả lấy trong tay áo ra một chiếc kính nhỏ và đưa cho chàng: "Ðây là MÊ ngộ cảnh. Tấm kính này sẽ giúp con biết rõ thiện ác, chính, tà. Có người gọi nó là kính chiếu yêu, bởi vì qua tấm kính này, con có thể thấy được nguyên hình của loài yêu quái" 

 Chàng nhận bảo kính và cảm động đến nói không nên lời. Tờ mờ sáng hôm sau, chàng lên bái biệt sư phụ xuống núi. Người tiễn chàng xuống tận dòng Hổ Khê và thầy trò từ biệt nhau trong tiếng suối róc rách chảy. Sư phụ đặt bàn tay hiền dịu trên vai chàng nhìn thẳng vào cặp mắt chàng. Và nhìn theo chàng dũng sĩ ra đi. Người còn dặn theo: "Nhớ không con, nghèo khổ không thay đổi, vũ lực không khuất phục, giàu sang không mờ ám nhé. Ta ở đây đợi ngày con mang đạt nguyện trở về".
Chàng nhớ lại những ngày đầu tiên xuống núi tiếp xúc với cuộc đời. Chàng đã gặp trên con đường hành đạo bao bộ mặt khác nhau của con người, đã dùng bảo kiếm và mê ngộ cảnh của sư phụ chàng một cách có hiệu quả. Chàng còn nhớ có một lần kia, trên con đường hành đạo, chàng gặp một vị đạo sĩ tay cầm phất trần, đi lại gần chàng và mời chàng về động để bàn tính công việc giúp đời. Ðạo sĩ tỏ ra rất hăng hái với việc cứu nhân độ thế và giúp ích mọi loài. Ban đầu, chàng say sưa nghe theo lời đạo sĩ.

Nhưng trong lúc tiếp xúc với vị đạo sĩ, chàng nhận thấy người này có vẻ khả nghi. Chàng đưa tay rút mê ngộ cảnh ra chiếu. Trước mắt chàng, không phải là một đạo sĩ mà là một con yêu lớn có hai nanh dài, một cặp sừng trên trán và hai con mắt xanh lè đổ lửạ Chàng vội nhảy lui lại và rút bảo kiếm chém. Yêu quái cố sức kháng cự, nhưng cuối cùng, chàng thắng, và yêu quái hiện nguyên hình quỳ dưới chân chàng xin dung toàn tánh mạng. Chàng bằng lòng tha tội nhưng buộc yêu quái phải trân trọng hứa lui về tu luyện để thoát xác thành người mà không được trá hình đạo sĩ để lừa bịp và tìm cách nuốt sống những kẻ khờ dại dễ tin.
Một lần khác, chàng gặp một vị đường quan, rất có dáng dấp một bậc cha mẹ dân. Vị đường quan râu dài bạc phơ, hứa sẽ trọng dụng chàng và đã chịu khó thức suốt một đêm để bàn với chàng về những điều chánh trị ích quốc lợi dân. Vị đường quan đã tỏ ra mình là một người thiết tha đến hạnh phúc muôn dân, nhưng khi đưa mê ngộ cảnh lên, chàng hoảng hốt nhận đó là một con heo khổng lồ với cặp mắt háu đói, thèm khát, vô cùng khủng khiếp. Chàng đứng dậy rút gươm chém. Yêu quái bỏ chạy nhưng chàng đã nhảy ra đứng chận giữa cửa công đường và hét bảo nó hiện nguyên hình. Con heo kinh khiếp hiện hình quỳ dưới chân chàng cầu xin tha tội và hứa sẽ về tu luyện tinh tấn, thoát xác biếng lười, không còn dám trá hình để rúc rỉa xương thịt người dân vô tội.
Có một hôm, đi ngang qua chợ, chàng thấy thiên hạ già trẻ trai gái xúm quanh ngôi hàng sách. Người đang bày bán sách và tranh cho mọi người là một cô gái mặt hoa da phấn, trên miệng luôn luôn sẵn có một nụ cười. Thiên hạ trầm trồ khen ngợi tranh vẽ và thi nhau mua sách. Bên cạnh cô ta lại có một cô gái khác, cũng mặt hoa da phấn, tay ôm đàn, miệng cất tiếng hát khiến mọi người đã mua sách phải mê mẩn tâm thần không muốn ra khỏi cửa hàng. Thật là một cảnh thái bình nên thơ. Chàng cũng ngây ngất đứng nghe, và cuối cùng chàng lại gần cầm lên một bức họa. Màu sắc làm chàng choáng ngợp, nhưng qua nội dung chàng thấy thoáng gợn trong tâm linh một ít nghi ngờ. Ðưa mê ngộ cảnh lên nhìn, chàng hốt hoảng thấy nguyên hình hai con rắn độc, phun nọc phè phè. Chàng vội gạt mọi người ra, rút bảo kiếm, quát lên:
- Nghiệt súc! đừng phun nọc độc hại người. Mọi người chạy tán loạn. Hai con rắn độc văng mình tới. Nhưng trước thần lực của lưỡi bảo kiếm, cuối cùng đành phải khoanh tròn dưới gối chàng van xin thứ tội. Chàng dùng bảo kiếm cắt đứt nọc độc, đốt cháy cửa hàng và tha cho yêu súc, buộc cả hai phải hứa trở về núi tu luyện cho thoát kiếp ngậm nọc phun người. Cứ thế, chàng đã sử dụng bảo kiếm và mê ngộ cảnh theo đúng lời sư phụ dặn để cứu người và giúp đời. 

Chàng đã sống miệt mài với nhiệm vụ. Ðã từ lâu chàng vẫn tự cho rằng chàng là người dũng sĩ cần thiết cho cuộc đờị Cuộc đời không thể vắng bóng chàng. Chàng đã trà trộn trong cuộc sống, có khi thành công, nhưng cũng nhiều khi thất bạị Ðối diện với cuộc sống đầy mưu mô gian trá, nhiều lúc chàng phải uốn mình, linh động theo hoàn cảnh để chinh phục và chiến thắng. Có lúc chàng say sưa miệt mài trong công việc. Chàng cảm thấy thích thú khi hành động. Có khi chàng say mê quên cả ăn cả nghỉ, vì một sự theo đuổi mà chàng cảm thấy vì vui thích mà thực hiện hơn là ý thức rằng mình cần hoạt động để mà phụng sự. Thời gian trôi cứ như thế cho đến bảy năm. Một hôm trong lúc ngồi nghỉ bên một dòng sông, nhìn dòng nước lặng lẽ trôi, chàng giật mình thấy đã từ lâu, gần hai năm nay, chàng không dùng đến mê ngộ cảnh. Chàng không dùng, không phải là chàng quên rằng mình có ngộ cảnh, mà chỉ vì chàng thấy không thích dùng. Chàng nhớ lại trước đây đã có một thời chàng dùng mê ngộ cảnh một cách mi-n cưỡng. Chàng nhớ lại những ngày mới xuống núi ấy, chàng đã chiến đấu rất hăng hái khi thấy nguyên hình những yêu quái xuất hiện trên mê ngộ cảnh. Chàng cũng cảm thấy hân hoan vô hạn khi soi thấy trên mê ngộ cảnh hình dáng các bậc hiền nhân. Nhưng trong thời gian trước đây, một cái gì khác lạ đã đến trong tâm hồn chàng, đến lúc nào chàng không nhận rõ. Chàng đã không thiết tha lắm khi nhìn thấy hình bóng một bậc hiền nhân, mà cũng không giận dữ lắm khi thấy một bóng hình yêu quáị Trong bóng hình yêu quái đó, đôi khi chàng lại nhận ra một vài nét hơi quen thuộc,và lưỡi bảo kiếm đã có thờ ơ khi có những bóng hình yêu quái xuất hiện trước kính thần.

Cho đến những ngày gần đây, chàng không dùng mê ngộ cảnh nữạ Chiếc kính vẫn nằm trong túi áo chàng, nhưng đã từ lâu không còn được sử dụng. Chàng lấy làm lạ và đã nói nhiều lần định quay về hỏi sư phụ. Nhưng đã ba tháng qua, bận bịu những gì không đâu, chàng chưa có thể trở về. Mãi cho đến hôm mười hai tháng tám trước đây, đi qua một rừng mai hoa nở, thấy sắc hoa trắng như tuyết lấp lánh dưới ánh trăng thu, nhớ đến những ngày thơ ấu bên rừng mai già học tập dưới chân thầy, chàng mới quyết định trở về. Ðường về sao chàng thấy xa quá. Bảy ngày trèo non lặn suối mới về tới được chỗ cũ.

 Nhưng đến chân núi thì trời đã tốị Trăng cũng vừa lên và hai cánh cửa tùng cũng đã khép chặt lối mòn. Chàng đành phải đợị Buổi sáng, người sư đệ của chàng thế nào cũng phải xuống suối múc nước, và như vậy sẽ mở cửa cho chàng. Trăng đã lên tới quá đỉnh đầu, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống rừng núi âm ụ Trời càng về khuya càng lạnh. Chàng lại rút kiếm ra nhìn. Ánh trăng lại lấp lánh trên lưỡi kiếm. Chàng lại tra kiếm vào vỏ. Trên mặt chàng thoáng nét ưu tư sầu muộn. Chàng đứng dậỵ Trăng sáng quá. Núi rừng vẫn u tịch và lạnh lùng. Chàng ngồi xuống phiến đá chờ đợị Quãng đời bảy năm qua lại trở về trong trí óc chàng. Trăng dần dần về phía núi xạ Ngàn sao lấp lánh linh động hơn, và cuối cùng bắt đầu mờ nhạt. Phương đông đã nhuộm dần ánh sáng mờ mờ. 

 Ðường viền ngọn núi đã nổi dần trên vầng sáng nhạt. Bình minh sắp về. Chàng nghe tiếng lá khô xào xạc trên núị Ngửng lên chàng thấy một bóng người mờ nhạt từ trên đi xuống. Chắc hẳn là người sư đệ của chàng. Trời đang tối quá chàng nhìn không rõ, chỉ thấy hình bóng.

 Nhưng chắc chắn đó là người sư đệ, bởi vì tay có cầm tịnh bình. Chàng đứng dậỵ Bóng người tiến

 xuống và khi đến gần cánh cửa thì cũng vừa nhận ra được chàng dũng sĩ. - "Ðại huynh" 

 - Sư đệ! - Ðại huynh về bao giờ thế ? - Ta về lúc trăng mới lên và phải đợi cả đêm dưới nàỵ.. Tại sao sư phụ lại cho đóng bít lối lên như thế ? Người sư đệ mỉm cười đưa nhẹ tay mở cửạ Hai cánh cửa tùng bật ra một cách d- dàng. Bước ra nắm lấy tay chàng và nhìn chàng tận mặt. -"Ðại huynh ở một đêm giữa trời chắc lạnh lắm. Sương phủ ướt áo thế này mà, thôi để tiểu đệ phủi bớt chọ Trước kia đệ thường ở dưới núi hái rau nhặt củi và luôn tiện canh chừng người lên núị Lâu lâu mới có một người lên núị Nếu tiểu đệ thấy ai đáng lên hầu sư phụ thì tiểu đệ cho lên, nếu họ không đáng lên thì em lẫn tránh để cho họ lạc đường. Sư huynh biết rằng sư phụ không bao giờ muốn tiếp những người lên núi với tâm niệm không lành. Ðộ này tiểu đệ bận tập luyện luôn mà sư phụ cũng bận ngồi tĩnh tọa trong thạch động nên người dặn cho đệ khép cửa chắng ngang

 lối lên dưới nàỵ Sư phụ có trao phép lạ khiến cho cửa tự động mở ra khi các bậc hiền nhân đến. Nhưng khi những kẻ phàm tục lên thì cửa cứ đóng chặt không thể nào vượt qua được. Nhất là khi kẻ ấy có yêu khí thì đừng mong lên núị" 

 Chàng dũng sĩ cau mày: - "Nhưng không lẽ ta mà lại là yêu quáỉ Sao cửa lại đóng chặt?" Người sư đệ cười lớn: - "Vâng đại huynh sao lại là yêu quái được! Ðệ cũng quên đi mất là tại sao cửa lại đóng. Nhưng bây giờ dù sao thì đại huynh cũng lên núi được rồi cơ mà, vì cửa đã mở. Nhưng đại huynh đợi em chút nhé. Ðể tiểu đệ xuống suối múc nước rồi cùng lên một thể. Hay đại huynh xuống suối với đệ cho vuị Cười lên chứ, đại huynh giận ai mà nét mặt trông khó đăm đăm như vậỷ" 

 Hai anh em cười vang. Chàng dũng sĩ đi theo người sư đệ xuống suốị Mặt trời vẫn chưa lên, nhưng phương đông đã rạng. Hai người đã có thể nhìn rõ mặt nhaụ Mặt suối lặng trong, in màu hồng của rạng đông. Bóng hai người đứng song song in hình trên mặt suốị Chàng dũng sĩ trong bộ võ phục hiên ngang, lưng đeo trường kiếm. Người sư đệ trong y phục tiểu đồng hòa nhã, tay cầm tịnh bình. Hai người cùng nhìn bóng mình in trên mặt nước mỉm cườị Một con bọ nước nhảy, làm mặt nước hồng gợn nhẹ và bóng hai người rung rung theo làn sóng nước gợn. "Bóng chúng ta trên mặt nước đẹp quá nhỉ! Nếu bây giờ tiểu đệ múc nước thì sóng dậy và bóng tan mất. À này đại huynh "mê ngộ cảnh" sư phụ cho đại huynh còn giữ đó không?" Chàng dũng sĩ cho tay vào túi trả lời: 

 - Còn đây 

 - Tại sao chúng ta không đem ra chiếu hình chúng ta xem nào. 

 Chàng sực nhớ là từ lâu chàng chưa chiếu mê thử trước hình bóng mình. Chàng lấy kính thần ra, lau bụi vào vạt áo, chiếu trên mặt nước. Hai anh em châu đầu vào mặt kính. 

 Nhưng bỗng cả hai người cùng hét lên một tiếng kinh hoàng, khủng khiếp, và tiếp theo đó chàng dũng sĩ ngã quỵ trên bờ suối bất tỉnh. Tiếng thét kinh khủng làm chấn động cả núi rừng hoang dại . Một con nai đang uống nước phía trên dòng hoảng hốt đưa đầu lên nhìn, ngơ ngác kinh sợ. Người sư đệ vừa trông thấy trong kính thần, hình bóng của mình đứng bên cạnh hình bóng một con yêu to lớn với đôi mắt tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quập sâu vào chiếc càm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoẹt như gà cắt tiết. 

 Người sư đệ rùng mình dụi mắt nhìn lại, trên bờ suối đá xanh, chàng dũng sĩ vẫn nằm ngã lăn bất tỉnh, trên mặt vẫn còn in rõ nét kinh hoàng, đau khổ hiện hình một cách thảm hại trên con người đã từng xông pha lăn lộn bảy năm trong cuộc đời đầy cát bụi. 

 Người sư đệ đến ôm lấy chàng dũng sĩ và lấy nước suối vã vào mặt chàng. Vài phút sau, chàng tỉnh dậy, nét mặt vô cùng bi thảm. Hình bóng trên mê ngộ cảnh hiện ra bất ngờ quá và ý thức tự giác trong nháy mắt đã làm cho chàng ngả quỵ. Chàng đã mất hết nghị lực, mất hết sự sống. Tứ chi chàng rời rã, chàng không thể đứng dậy được nữạ Một chân quỵ xuống cát, người sư đệ dịu dàng nâng chàng ngồi dậỵ Nét thiểu não và khổ đau còn in rõ trên khuôn mặt chàng. - "Thôi, đại huynh vui lên. Chúng ta sẽ lại lên núị" 

 Giọng nói của người sư đệ êm như một hơi gió thoảng, nhẹ như một tiếng thì thầm. Nhưng chàng lắc đầu một cách thất vọng. Chàng không còn muốn sống. Ðau khổ đã làm chàng thảm não và tâm hồn chàng vừa bị tàn phá tang thương như mặt đất sau cơn phong vũ điên cuồng. Chàng không còn dám có ý tưởng lên núi để nhìn mặt sư phụ. Người sư đệ vuốt tóc chàng, an ủi: "Thầy thương anh lắm. Không sao đâu, đại huynh sẽ ở mãi bên thầy (vỗ về). Ðại huynh sẽ sống bên em như những ngày xưa êm đẹp cũ (khóc). Em không ngờ bao nhiêu năm dưới núi đã tàn hại anh đến thế." 

 Và người ta thấy trên con đường mòn cheo leo lên núi, bóng người sư đệ lần từng bước dìu chàng dũng sĩ trở lên động. Trời vẫn còn chưa sáng hẳn, bóng hai người in trên màn sương mỏng nhẹ của núi rừng buổi sáng. Tia nắng đầu tiên soi rõ dáng điệu thiểu não rời rã của chàng dũng sĩ bên cạnh dáng điệu diệu dàng từ hòa của người sư đệ. Mặt trời đã nhô khỏi đỉnh núi xa.

  TVHS


Comments

Popular posts from this blog

Tin Văn Cũ

Hoàng Hạc Lâu