Thơ Mỗi Ngày

                                                           



 
Thơ Mỗi Ngày


http://www.tanvien.net/new_daily_poetry/Island_Bei_Dao.html


http://tanvien.net/new_daily_poetry/Bei_Dao.html

Note: Gấu biết đến Bei Dao, là qua tờ Văn Học Á Châu, qua bài thơ Phong Cảnh Trên Không Độ.
Mê quá!
Không Độ, ở đây, theo Gấu, không phải là tọa độ, mà là điểm chia.
Nên nhớ, con số 0, là con số con người biết đến nó, chậm nhất. Số, là để đếm, nhưng không đếm được, làm sao có...  số?
Từ khi biết đến con số 0, thì loài người mới bắt đầu chiêm nghiệm về cô đơn, về hư vô, về....  không có gì!

Thua, thua nữa, thua cho bảnh, là như thế!


ASIA LITERARY REVIEW
Winter 2010

Modern Chinese Poetry - Insistent Voices

Landscape Above Zero

It was the seagull that taught the song to swim
It was the song that found the first wind's source

We shared shards of happiness
Entering the home from different directions

It was father who recognized darkness
It was darkness that led us to sudden lightning

The weeping door slammed shut
And echo pursued its cries

It was the pen that bloomed in despair
It was the flower that refused the necessary journey

It was rays of love that awoke
Lighting the landscape above zero 

Bei Dao

Phong cảnh ở bên trên con số không

Đó là hải âu dậy bài ca bơi
Đó là bài ca tìm thấy nguồn gió

Chúng ta chia nhau những mảnh vụn của hạnh phúc
Về nhà từ nhiều hướng khác nhau

Đó là người cha nhận ra bóng tối
Đó là bóng tối dẫn chúng ta tới ánh sáng bất thần

Cánh cửa nức nở đóng sầm lại
Và tiếng vang đuổi theo tiếng khóc của nó

Đó là cây viết nở hoa trong chán chường
Đó là bông hoa từ chối một chuyến đi cần thiết

Đó là những tia tình yêu thức giấc
Soi sáng phong cảnh ở trên con số không

Bạn đọc Tin Văn đã đọc bài thơ trên, qua bản tiếng Anh & tiếng Việt của GCC.
Bi giờ vớ được nguyên bản tiếng Tầu, và 1 bản dịch tiếng Anh khác đi kèm:




*

And the whole town is encased in ice,
Trees, walls, snow, as if under glass.
Timidly, I walk on crystals,
Gaily painted sleds skid.
And over the Peter of Voronezh-crows,
Poplar trees, and the dome, light green,
Faded, dulled, in sunny haze,
And the battle of Kulikovo blows from the slopes
Of the mighty, victorious land.
The poplars, like cups clashed together,
Roar over us, stronger and stronger,
As if our joy were toasted by
A thousand guests at a wedding feast.
But in the room of the poet in disgrace,
Fear and the Muse keep watch by turns.
And the night comes on
That knows no dawn.
[in Anna Akhmatova, Poet and Prophet, by Roberta Reeder]

VORONEZH
(To Osip Mandelstam)
The city is caught in the grip of ice-
Trees, walls, snow, are as under glass.
Over crystals, I and the patterned sleighs
Go our separate, unsteady ways.
And above St. Peter's steeple--crows,
And poplars-a light-green vault that glows-
Blurred, lackluster, in the sunny dust.
The triumphant landscape blows into thought
This is where Kulikovo was fought.
And the poplars like wineglasses raised in a toast
Suddenly ring out more clearly above us.
As though at a wedding the assembled host
Were drinking our union to show how they love us.
But Fear and the Muse in turn guard the place
Where the banished poet has gone.
And the night that comes with quickened pace
Is ignorant of dawn.
1936

Osip Mandelstam: 1891-1939, noted Russian poet, arrested twice, died in prison.
Kulikovo: great battle against the Tartars, 1378.
[Bản của Lyn Coffin]


VORONEZH
(To Osip Mandelstam)

Thành phố bị băng giá tóm trọn
Cây, tường, tuyết, dưới thuỷ tinh
Trên lớp pha lê,
Tôi và bạn bè trượt tuyết
Chập choạng, tứ tán
Và ở bên trên gác chuông nhà thờ St. Peter –
Quạ, bạch dương, ánh sáng xanh rực rỡ
Nhạt nhoà dần đi, lờ đờ, trong lớp bụi chiều tà
Khung cảnh chiến thắng thổi 1 đường hoành tráng dài vào hồi ức
Chính là ở nơi đây trận chiến  Kulikovo đã xẩy ra
Và bây giờ hàng cây bạch dương ở bên trên
Như những người khách quí
Cùng tham dự 1 buổi tiệc cưới
Cùng nâng chén chúc tụng
Như cùng muốn nói
Chúng yêu chúng ta biết là chừng nào.

Nhưng Sợ Hãi và Nàng Thơ, tới lượt họ, canh gác cung điện
Nơi nhà thơ bị biếm, đọa đày, thất sủng, đã ra đi
Và đêm – không hề biết rạng đông là gì –
Bèn mò tới.

Hạn tù lưu đày, tại thành phố trên đây, của Mandelstam, chấm dứt Tháng Năm 1937. Khi cả hai vợ chồng trở về lại Moscow, Akhmatova là người đầu tiên tới thăm họ, và ông chồng hào hứng đi tới đi lui trong căn phòng, đọc thơ của mình, những bài thơ mới làm.
Akhmatova cũng đọc thơ của mình, viết về bạn mình.

Thoạt đầu, bài thơ chỉ là mô tả thành phố trong mùa đông. Nhưng bất thình lình, mùa đông thần kỳ, ướt át, lâm ly, hoành tráng với trận đánh “Đống Đa”- nghe nói, Tôn Sĩ Nghị bỏ cả ấn tín của Tập ban cho làm Trùm xứ Bắc Kít -  bèn trở thành quê kệch, cà chớn, bố lếu bố láo, với sự thống trị của Trùm Của Mọi Tên Vẹm, là Xì Tà Lỉn, khi đêm trùm xuống thành phố và toàn cõi Mít, 1 đêm đếch bao giờ biết rạng đông, buổi mai, sáng sớm là gì hết, hà, hà!

Bài thơ, ra mắt lần đầu tiên 1940, đếch có 4 dòng chót.
Với xứ Mít, phải đến bây giờ, mới được đọc, qua trang Tin Văn của tên GCC!
Vợ chồng Mandelstam không được ở thủ đô quá lâu. Những người như họ phải ở ngoại vi, cách Moscow 100 cây số!

/new_daily_poetry/Jweish_Cimetery_Leningrad.html

Bài này đang Top. GCC đã dịch ra tiếng Mít. Post lại ở đây

Bài thơ này có trong From Russia with Love, mà Tin Văn đang lai rai giới thiệu, và trong W.S. Merwin, Selected Translations.

...Continue Reading
Comments
Ngô Nhật Đăng Đằng sau hàng rào gỗ cong queo mục nát
Cách trạm xe điện cuối bốn dặm....See More
LikeShow more reactions
Reply
1
Yesterday at 9:54am
Manage
Ngô Nhật Đăng Cái số 4 như một điều gở, ở Mít chẳng hạn "Điều 4 hiến pháp".
LikeShow more reactions
Reply
1
Yesterday at 9:55am

Note: Do cái còm của vị bằng hữu FB, v/v con số 4, tò mò, Gấu mò ra 1 bản dịch khác, cũng bài thơ này, của Roberta Reeder, tác giả cuốn "Anna Akhmatova, Thi Sĩ & Tiên Tri", thay vì số 4, thì là, kilometers from the end station of the trams.
Thú vị hơn nữa., bài thơ xuất hiện cùng thời kỳ với từ Samizdat, và bài thơ là 1 trong số đó. Cũng đúng vào lúc này, họ được quen Anna Akhmatova, và trở thành "những đứa trẻ mồ côi" của Bà.

Đoạn này tuyệt lắm.

Brodsky khi đó 22 tuổi. Anh đọc thơ cho bà nghe, bà có vẻ thích. Còn Brodsky, anh thú thực, chưa nhận ra tầm vóc của Bà. He says he still did not quite grasp the full significance of who she was, cho đến 1 ngày, từ nhà Bà trên đường về bằng xe lửa, anh bất thình lình hiểu ra. Và thế là ngày nào cũng cố mò tới, và, mướn ngay 1 cabin ở Komaroso suốt mùa đông để ngày nào cũng gặp.

Akhmatova viết về Brodsky:

I don’t weep for myself now,
But let me not be on earth to witness
The golden stamp of failure
On this yet untroubled brow.
(II, p. 223)

Tôi không khóc cho chính tôi bây giờ
Nhưng đừng để cho tôi có ở trên thế gian này
Để chứng kiến cái ấn vàng của sự thất bại
Trên vầng trán chưa vướng u sầu này

The golden stamp: Ý muốn nói tới dấu ấn ngôi sao trên trán bất cứ 1 tên Do Thái nào, của Nazi. Bằng tính tiên tri, và đốn ngộ, Anna Akhmatova đã tiên đoán, Ông Trời Già sẽ làm 1 cú test, về khả năng chịu đòn của Brodsky. Y chang thằng cha GCC, hà, hà!
Đừng nghĩ Gấu vơ vào. Bài thơ "The Last Rose", Anna Akhmatova viết tặng Brodsky, chẳng là để tặng BHD ư?

THE LAST ROSE

You will write about us on a slant
J. Brodsky

With Morozova I should bow and obey,
I should rise with the smoke from Dido's pyre,
I should dance with Salome,
And thus be again with Joan in the fire.
Oh Lord! You see how tired one grows
Of resurrection, and dying, and living,
Take it all except this crimson rose-
Let me feel the freshness of the gift it's giving.
1962
Akhmatova

Bông Hồng Cuối

Bạn sẽ viết, nghiêng nghiêng, về chúng ta
J. Brodsky

Với Morozova tôi sẽ cúi đầu vâng lời
Tôi sẽ bay lên cùng khói từ giàn thiêu Dido
Tôi sẽ khiêu vũ với Salome
Và rồi lại bắt đầu với Joan trong giàn hỏa
Ôi Chúa ơi! Người cũng biết đấy, ta mệt đến bã người
Với ba chuyện làm xàm phục sinh, và chết, và sống,
Lấy mẹ hết đi, cha nội, trừ CM –
Hãy để cho ta cảm thấy sự mát rượi của món quà mà nàng mang tới!


With her usual gift for prophecy and insight, she predicted destiny would soon test Brodsky’s ability to endure adversity.

One time, in 1962, Bobyshev brought Akhmatova a poem he had written for with a bouquet of five beautiful roses. It was her birthday, and she was staying at Kornarovo. Akhmatova mentioned the roses on his next visit, saying, “Four of them soon faded, but the fifth bloomed extraordinarily well and created a miracle, almost flying around the rooms.”
Soon the young poets found out what this “miracle” was -Akhmatova had written poems to them. "The Last Rose" was devoted to Brodsky, "The Fifth Rose" to Bobyshev, and "Non-existence" to Nayman. The poem to Brodsky was the one she recited to Robert Frost when he came to see her. In it she asks God to let her live a simple life and not share the terrible fate of famous women in history like Joan of Arc and Dido. She opens with an epigraph containing a line from Brodsky: "You will write about us on a slant” which appeared when Akhmatova's poem was first published, but disappeared after Brodsky's trial.

Brodsky had written his poem to her earlier that year:

I did not see, will not see your tears,
I will not hear the rustling of wheels,
carrying you to the bay, to the trees,
along the fatherland without a memorial to you.

In a warm room, as I recall, without books,
without admirers, but there you are for them,
resting your brow on your palm
you will write about us on a slant.

Có 1 sự gần gụi đến là tài tình, ông Trời sắp đặt khiến Gấu nhận ra mình bà con với Brodsky, hà, hà!
Trong bài "Để hài lòng 1 cái bóng", viết để tặng Auden, B. tả cảnh, ở nông trường cải tạo, đọc Auden, và ngộ ra thơ là cái chó gì, đâu có khác Gấu, lần đầu tiên nghe “nhạc sến”, đồi trụy của Ngụy, nào "Ngày mai đi nhận xác chồng", nào "Thuyền Viễn Xứ", và ngộ ra điều Kafka phán, có thứ âm nhạc chỉ để hát lên ở địa ngục.
Một cách nào đó, ông Trời cũng thử thách Gấu, như Brodsky, nhưng gian nan, thê thảm hơn rất nhiều.
Lần đầu tiên được nghe. Đúng như thế, với bản Ngài mai đi nhận xác chồngThuyền Viễn Xứ, tuy là đã nghe nhiều lần rồi, nhưng lần nghe ở nông trường cải tạo Đỗ Hòa, khác hẳn mọi lần...



Album

Snow

By Frederick Seidel

Snow is what it does.
It falls and it stays and it goes.
It melts and it is here somewhere.
We all will get there.

Hàng cũ, mới vồ được.
Tay này Tin Văn đã giới  thiệu. Tiếng Tây  thần sầu, rất mê Apollinaire. Noel này đọc thơ mệt nghỉ.
Đâu chỉ ông này, mà còn Mallarmé, W.S. Merwin, toàn đồ lạc xong. Thế mới lại càng thú.
Mỗi lần ghé tiệm sách cũ là 1 lần nhớ ngày đầu tới Toronto. Cái shelter đầu tiên, ở ngay kế đó. Lần đầu gặp lại cô bạn, ở đó... Đó, đó....
Những từ như shelter, asylum seeker..... phải đến khi ra được hải ngoại, Gấu mới hiểu được chúng.
Bài thơ sau đây, của W.S. Merwin, ở trong cuốn mới vồ được, "The First Four Books of Poems", nói giùm Gấu cái nghĩa của từ "shelter".

Shelters, rising into the native air,
And that, though perhaps cold, he is at home there.

Tks. NQT

Comments

Popular posts from this blog

Tin Văn Cũ

Hoàng Hạc Lâu