Borges Tám Bó

 


Borges Tám Bó

&

*

Indiana University,
March 1976

Borges Tám Bó

A Writer Is Waiting for His Own Work

If you allow me to be paradoxical-and why not since we are among friends?-a writer is waiting for his own work. I think a writer is being changed all the time by his output. So that perhaps at first what he writes is not relevant to him. And if he goes on writing, he'll find that those things are ringing a bell all the time.

Note: Bài này, Chương 7, trong cuốn "Borges tám bó", "Borges at 80":  Nhà văn đang đợi bản văn của riêng anh ta.

GCC post/dịch để tặng những đấng phê bình gia Mít, vì, theo như lời nguyền của Steiner, thì đấng nào đấng đó, đều là…  hoạn quan cả!
Đồng thời, để tặng anh đầu nậu VC/MQL, chẳng biết tí tiếng mũi lõ, vậy mà chê Bùi Giáng làm thơ & dịch!
In Memory of Borges

Hành xử trong chế độ ta và chế độ Ngụy

Trang web của tỉnh Bến Tre có bài viết về sự ra đời của đội quân tóc dài. Trong bài viết đó có đoạn thuật lại như sau: "Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi". Trang Ngôi sao đăng những bức ảnh chụp cảnh cưỡng chế đất, trong đấy có những cảnh vệ sĩ lôi kéo hai phụ nữ trần truồng ở Cần Thơ. Dưới chế độ Ngụy những tên ác ôn mặt dày mày dạn đã cúi mặt bỏ đi trước những người phụ nữ lõa thể, nhưng ở chế độ ta những người ngày ngày được nghe tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn hăng hái xông vào lôi kéo những người phụ nữ trần truồng. Đấy là điểm khác nhau giữa chế độ ta và chế độ Ngụy. Không biết những người phụ nữ trong đội quân tóc dài ngày xưa đấy giờ ra sao, có kinh nghiệm gì truyền lại cho chị em hôm nay không và khi xuôi tay có nhắm mắt được không?

Đông A Blog

Note: Lần đầu tiên 1 anh VC xác nhận, chế độ ta khốn kiếp hơn nhiều so với chế độ Ngụy
Cái đội quân tóc dài ngày nào, nhờ Bắc Kít giải phóng, biến thành Quỉ  Đỏ hết rồi.
Chứng cớ: Một bà Bình, chót đời viết hồi ký, đâu có biết Bà là Quỉ, thua 1 một em Yankee mũi lõ như Jane Fonda, mang nỗi đau qua bên kia mồ, thua Cao Bồi PXA, không làm sao nhắm mắt.

Be careful what you wish for
Hãy coi chừng, hãy cẩn thận cái điều mà bạn mong muốn:

Bắc Kít mong thắng cuộc chiến với bất cứ giá nào.
Thắng, nhưng cái giá phải trả đắt quá, và nó liên quan tới cái sự giáo dục con nít hận thù.

Ở hải ngoại, có ba diễn đàn. Hậu Vệ và Da Mùi không rành tiếng Mít, Chợ Cá quá rành, nhưng toàn thứ cực độc, cực ác, phải dẹp tiệm, quay qua “lốc liếc”, nhưng cũng không khá!

Không thể nào khá được, bởi vì cái độc nó tẩm vô người tới xương tới da, tới linh hồn Bắc Kít rồi, mà điều này là do nền giáo dục hận thù gây nên.

Người ta, trong có cả Naipaul, vẫn chê Borges [trong cuốn Nhà văn và Thế giới, Naipaul dành gần như cả 1 chương để phạng Borges, khi viết về Argentina] không màng tới thế sự, chỉ mơ tưởng cõi thiên thu, bất diệt. Nhưng ông có mấy bài viết về Nazi thật thần sầu, trong có bài về giáo dục hận thù Do Thái của Đức. Ông phán, chính cái thứ giáo dục này đẩy nước Đức tới tội ác Lò Thiêu, chứ không phải chủ nghĩa Nazi.

GCC không tin đám Bắc Kít thay đổi được.
Làm sao thay máu?
Đâu 1 người, mà cả một dân tộc.


NOTES GERMANY & ON THE WAR

A Pedagogy of Hatred

Displays of hatred are even more obscene and denigrating than exhibitionism. I defy pornographers to show me a picture more vile than any of the twenty-two illustrations that comprise the children's book Trau keinem Fuchs auf gruener Heid und keinem Jud bei seinem Bid [Don't Trust Any Fox from a Heath or Any Jew on his Oath] whose fourth edition now infests Bavaria. It was first published a year ago, in 1936, and has already sold 51,000 copies. Its goal is to instill in the children of the Third Reich a distrust and animosity toward Jews. Verse (we know the mnemonic virtues of rhyme) and color engravings (we know how effective images are) collaborate in this veritable textbook of hatred.
Take any page: for example, page 5. Here I find, not without justifiable bewilderment, this didactic poem-"The German is a proud man who knows how to work and struggle. Jews detest him because he is so handsome and enterprising" -followed by an equally informative and explicit quatrain: "Here's the Jew, recognizable to all, the biggest scoundrel in the whole kingdom. He thinks he's wonderful, and he's horrible." The engravings are more astute: the German is a Scandinavian, eighteen-year-old athlete, plainly portrayed as a worker; the Jew is a dark Turk, obese and middle-aged. Another sophistic feature is that the German is clean-shaven and the Jew, while bald, is very hairy. (It is well known that German Jews are Ashkenazim, copper-haired Slavs. In this book they are presented as dark half-breeds so that they'll appear to be the exact opposite of the blond beasts. Their attributes also include the permanent use of a fez, a rolled cigar, and ruby rings.)
Another engraving shows a lecherous dwarf trying to seduce a young German lady with a necklace. In another, the father reprimands his daughter for accepting the gifts and promises of Solly Rosenfeld, who certainly will not make her his wife. Another depicts the foul body odor and shoddy negligence of Jewish butchers. (How could this be, with all the precautions they take to make meat kosher?) Another, the disadvantages of being swindled by a lawyer, who solicits from his clients a constant flow of flour, fresh eggs, and veal cutlets. After a year of this, the clients have lost their case but the Jewish lawyer "weighs two hundred and forty pounds." Yet another depicts the opportune expulsion of Jewish professors as a relief for the children: "We want a German teacher;' shout the enthusiastic pupils, "a joyful teacher who knows how to play with us and maintain order and discipline. We want a German teacher who will teach us common sense." It is difficult not to share such aspirations.
What can one say about such a book? Personally I am outraged, less for Israel's sake than for Germany's, less for the offended community than for the offensive nation. I don't know if the world can do without German civilization, but I do know that its corruption by the teachings of hatred is a crime.
[1937]

Jorge Luis Borges: Selected Non-Fictions, Penguin Books
Người dịch: Suzanne Jill Levine
*
Note: Tình cờ vớ được bài trên, Sư Phạm của Hận Thù, đọc, Gấu bỗng nhớ đến bài viết Còn Lại Gì? của PTH, thí dụ, những đoạn dậy toán bằng đếm xác Mỹ Ngụy...

I don't know if the world can do without German civilization, but I do know that its corruption by the teachings of hatred is a crime.
Tôi không biết thế giới làm ăn ra sao, nếu thiếu nền văn minh Đức, nhưng tôi biết, cái sự sa đọa, hư ruỗng của nó, do dậy dỗ hận thù, và đây là 1 tội ác.

Cái việc dậy con nít hận thù là một tội ác. Cái sự thắng trận và băng hoại sau đó, chính là do dậy con nít thù hận. We want a German teacher who will teach us common sense: Chúng em muốn 1 ông thầy dậy chúng em lương tri.


In Memory of Borges

* *

*

Cuốn này, mua lần qua Paris, tá túc nhà bạn Kiệt Tấn. Cuối thiên niên kỷ, gặp lại bạn quí HPA.
Đúng 13 truyện ngắn. Con số 13, “tình cờ”, hay "tàn khốc” thì cũng thế, vì như nhau, như Borges phán. Nhưng ông không nói thêm, độc giả mua, thì tình cờ, hay tàn khốc, cho dù như nhau?

ÉPILOGUE

Écrire une préface à des contes qui n'ont pas encore été lus est une tache presque impossible, puisqu'elle oblige à analyser des situations dont il convient de ne pas dévoiler la trame. Je préfère done m'en tenir a un épilogue.
    Le premier récit reprend le vieux thème du double, qui inspira si souvent la plume, toujours heureuse, de Stevenson. En Angleterre son nom est
fetch ou, de facon plus littéraire, wraith of the living; en Allemagne, doppelgaenger. Je soupconne que l'une de ses premières désignation fut celle d'alter ego. Cette apparition spectrale aura sans doute été un reflet renvoyé par un métal ou par l'eau, ou simplement par la mémoire, qui fait de chacun de nous un spectateur et un acteur. It me fallait faire en sorte que les interlocuteurs fussent assez distincts pour être deux et assez semblables pour n'être qu'un. Dois-je avouer que l’idée de cette histoire me vint en Nouvelle-Angleterre, au bord du fleuve Charles, dont les eaux froides me rappeterent le lointain cours du Rhone?
    Le thème de l'amour intervient tres souvent dans mes vers, mais pas dans ma prose, qui ne presente d' autre exemple qu'
Ulrica. Les lecteurs remarqueront sa parente formelle avec L'Autre.
   
Le Congrès est peut-être la fable la plus ambitieuse de ce livre; son thème est celui d'une enterprise tellement vaste qu'elle finit par se confondre avec le cosmos et avec la somme des jours. Le début, par son opacité, peut imiter celui des fictions de Kafka; la fin cherche à s'élever, sans doute en vain, jusqu'aux extases de Chesterton ou de John Bunyan. Je n'ai jamais mérité semblable révelation, mais j'ai essaye de la rêver. En cours de route, j'ai introduit, selon mon habitude, des traits autobiographiques.
    Le destin qui, dit-on, est imperméable ne me laissa pas en paix que je n'aie perpétré un conte posthume de Lovecraft, écrivain que j'ai toujours considéré comme un pasticheur involontaire d'Egar Allan Poe. J'ai fini par céder; mon lamentable fruit s'intitule
The are more things.
    La Secte des Trente
consigne, sans le moindre document à l'appui, l'histoire d'une hérésie possible.
   
La nuit des dons est peut-être le récit le plus innocent, le plus violent et le plus exalté qu'offre cet ouvrage.
   
La bibliothèque de Babel (1941) imaginait un nombre infini de livres; Undr et Le miroir et le masque, des littératures séculaires qui ne comportment qu'un seul mot.
   
Utopie d'un homme qui est fatigué est, a mon sens, la pièce la plus honnête et la plus mélancolique de la série.
    J'ai toujours été surpris par l'éthique obsessionnelle des Américains du Nord;
Le Stratagème cherche à illustrer ce trait de caractère.
    Malgré John Felton, Charlotte Corday, l'opinion bien connue de Rivera Indarte (“C'est une oeuvre pie que de tuer Rosas”) et l'hymne national uruguayen (“Pour des tyrans, le poignard de Brutus”), je n'approuve pas l'assassinat politique. Quoi qu'il en soit, les lecteurs du crime solitaire d'Arredondo voudront savoir ce qu'il advint de lui. Luis Melian Lafinur demanda sa grâce, mais les juges Carlos Fein et Cristobal Saloanac le condamnerent à un mois de réclusion cellulaire et à cinq ans de prison. Une des rues de Montevideo porte aujourd'hui son nom.
    Deux objets essentiellement différents et également inconcevables forment la matière des demiers contes.
Le disque, c'est le cercle euclidien, qui ne comporte qu'une seule face; Le livre de sable, un volume au nombre infini de pages.
    J'espère que ces notes hâtives que je viens de dicter n'épuiseront pas l'intérêt de ce livre et que les rêves qu'il contient continueront à se propager dans l'hospitalière imagination de ceux qui, en cet instant, le referment.

J.L.B.

Buenos Aires, 3 février 1975.

In Memory of Borges

Reading to Borges:

Borges was, as he put it, "rotten with literature". When I mentioned I'd grown up in Cambodia, it was a cue for him to talk about Conrad, "the outstanding novelist of all novelists", and how Lord Jim, hero of Conrad's novel partly set in Cambodia, was a more interesting character than the gaucho Martin Fierro, because, Borges said, "a man pursued by an act of cowardice is more interesting that a man who is merely brave". When I told him of my ambition to travel one day to Petra, he recited the line of English poet John Burgon: "rose-red city half as old as time". Borges said, "Now, had he written 'as old as time' he would have written nothing at all, but 'half as old' gives it a magic precision."

“Borges”, như ông nói về mình, “bị thối rữa với văn chương”.  Khi tôi nói, tôi lớn lên ở Cambodia, thì Borges bèn nói về Conrad, “tiểu thuyết gia bảnh nhất trong tất cả những tiểu thuyết gia”, và như thế nào, Lord Jim, nhân vật tiểu thuyết của Conrad, một phần được đặt để ở Cambodia, thì thú vị hơn “gaucho” Martin Fierro, bởi là vì, Borges nói, “một người bị truy đuổi bởi 1 hành dộng hèn nhát thì thú vị hơn 1 kẻ chỉ có mỗi 1 thứ để khoe là can đảm”. Và khi tôi nói với ông tham vọng của tôi, là làm 1 chuyến giang hồ vặt tới Petra, ông bèn đọc 1 dòng thơ của nhà thơ Anh, John Burgon, "rose-red city half as old as time".
Borges nói, nếu nhà thơ viết “as old as time”, thì chán ngấy, nhưng ông viết “half as old” thì nó bèn trở nên chính xác một cách thần kỳ!

*

Giả Tưởng: Những mê cung của thế giới-cuốn sách "Il doit exister un livre qui est la clef et le résumé parfait de de tous les autres"La Bibliothèque de Babel

“Phải hiện hữu 1 cuốn sách là chìa khóa và bản tóm tắt tuyệt hảo của tất cả những cuốn sách”

*

In Memory of Borges

Someone

Reading to Borges:

http://www.theaustralian.com.au/arts/books/reading-to-borges/story-e6frg8nf-1226013290204

What Borges talked about that morning to an ignorant and shy 16-year-old he no doubt repeated to every inquisitive visitor from Britain. One remark did stand out: he said he rather wished Argentina had been colonised by the British, "because then we'd be like Australia".

Bài Someone này, được a2a post, kèm bài về Borges, hồi ức của 1 sinh viên. Anh sinh viên nhắc tới câu của Graham Greene, mà Tin Văn cũng đã nhắc tới: Nhưng tôi nhìn vào mắt ông, khi ông đọc, và thật ngỡ ngàng vì nét biểu hiện của cặp mắt mù. Chúng chẳng có vẻ mù gì hết. Như thể chúng nhìn vô chính chúng, 1 cách tò mò thế nào đó. Và chúng mới sang cả, phong nhã ["đài các như phượng hoàng"] làm sao!

Câu trên mới thú. Borges thèm được Ăng Lê biến thành thuộc địa, thời thực dân ngự trị, và nếu như thế, thì Argentia bây giờ sẽ thành 1 nước như xứ Úc.

Câu này cũng tuyệt, Borges was, as he put it, "rotten with literature" [tôi bị thối rữa vì văn chương].
Làm nhớ Nguyễn Du [thơ chữ Hán], cuộc đời trăm năm rách nát vì văn chương.

REMORSE

I have committed the worst sin of all
That a man can commit. I have not been
Happy. Let the glaciers of oblivion
Drag me and mercilessly let me fall.
My parents bred and bore me for a higher
Faith in the human game of nights and days;
For earth, for air, for water, and for fire.
I let them down. I wasn't happy. My ways
Have not fulfilled their youthful hope. I gave
My mind to the symmetric stubbornness
Of art, and all its webs of pettiness.
They willed me bravery. I wasn't brave.
It never leaves my side, since I began:
This shadow of having been a brooding man.

[Trans. Willis Barnstone]

Ăn năn

Tôi đã phạm cái tội tồi tệ nhất trong tất cả mà
một người đàn ông phạm phải
Tôi đã không hạnh phúc
Hãy để cho những băng hà của quên lãng
Lôi tôi đi, và thả tôi té xuống, không sót thương
Cha mẹ tôi nuôi tôi và ban cho tôi một niềm tin cao
vào trò chơi của con người về ngày và đêm;
Cho đất, cho khí trời, cho nước và cho lửa.
Tôi làm họ thất vọng. Tôi không sung sướng
Những cung cách của tôi đã không hoàn thành hy vọng thời trẻ của họ.
Tôi dành tâm trí của tôi cho ba cái trò ương bướng,
cái nọ đối xứng với cái kia,
của nghệ thuật, và tất cả những lưới nhện của nó về sự ti tiểu.
Họ mong tôi can đảm. Tôi không can đảm.
Tôi chưa từng rời bỏ phần vía của tôi, kể từ khi bắt đầu:
Cái bóng của một tên cà chớn, lúc nào cũng ủ ê,
chẳng biết sướng điên lên là cái gì!

Hà, hà!

In Memory of Borges

A BOOK

Scarcely a thing among things
But also a weapon. It was forged
In England, in 1604,
And they weighted it with a dream. It holds
Sound and fury and night and scarlet.
My palm feels its heaviness. Who could say
It contains hell: the bearded
Witches who are fates, the daggers
Which carry out laws of shadow,
The delicate castle air
That will see you die, the delicate
Hand capable of bloodying the seas,
The sword and shouting of the battle.
That silent uproar sleeps
In the circle of one of the books
On the quiet shelf. It sleeps and waits.

[Trans. Willis Barnstone]

Cuốn sách

Thì cũng một vật giữa những vật
Nhưng còn là một vũ khí.
Nó được rèn, đúc ở Ăng Lê vào năm 1604.
Và họ cân nó với 1 giấc mộng.
Nó cưu mang trong nó
Âm thanh và cuồng nộ
Đêm, và màu đỏ tươi.
Lòng bàn tay của tôi cảm thấy sức nặng của nó.
Ai có thể nói,
Nó chứa địa ngục:
Những tên phù thuỷ râu rậm, chúng là số mệnh
Những dao găm thực hiện những luật lệ của bóng tối
Cái không khí lâu đài thanh nhã
Sẽ nhìn thấy bạn chết
Cái bàn tay thanh nhã có thể vấy máu những biển cả,
Cây gươm và tiếng la hét của trận địa.
Cái im lặng làm huyên náo những giấc ngủ
Trong vòng tròn của một của những cuốn sách
Trên giá sách yên lặng,
Nó ngủ và đợi.


THE MOON

for Maria Kodama

There is such loneliness in that gold.
The moon of the nights is not the moon
Which the first Adam saw. The long centuries
Of human vigil have filled her
With ancient lament. Look at her. She is your mirror.

[Trans. Willis Barnstone]

Trăng nữ

Có nỗi cô tịch như thế, ở trong khối vàng đó.
Trăng đêm không phải trăng Adam, thuỷ tổ giống người, nhìn.
Những thế kỷ dài ăn chay cầu nguyện của con người
Đã tẩm vào nàng nỗi sầu vạn cổ.
Hãy nhìn nàng kìa.
Nàng là tấm gương của em đó.

In Memory of Borges

*

Yves Bonnefoy, kể là, ông viết thư làm quen với Borges. Ông đếch thèm trả lời. Một bữa, một ông bạn thân của ông, cũng quen Borges, kể cho ông nghe, ông tới gặp Borges, và bị bà vợ kéo ra 1 góc, hỏi về... Ève!
[Yves, đọc giọng Bắc Kít, chắc thế, thành Ève!]
Hóa ra là Borges khoe với vợ, mới nhận được thư của Yves, và bà này lại nghĩ, đây là nàng Ève, cũng 1 thứ “đảo xa” của ông chồng mình!
Và bà này tìm đủ mọi cách để ông chồng đừng gặp Ève!

Yves Bonnefoy có tới 3 kỷ niệm về Borges. đều tuyệt vời. Bà vợ của Borges, chắc bà trên, tên Elsa, là mới, une nouveauté, do bà mẹ Borges bắt buộc, vì bà quá già, không thể đi cùng với ông con, và nếu thực như vậy, thì bà mới này chỉ có được vài năm với Borges. Cảm tưởng của YV về cặp này, thật khác lạ, giữa họ với nhau, và với những bạn bè của Borges ở Cambridge, nơi Borges tới diễn thuyết.
Nhưng những dòng mở ra kỷ niệm đầu của ông thi sỉ Tẩy về Borges, mới thật là tuyệt: Vài hình ảnh về 1 người đàn ông cho tôi cái cảm tưởng có 1 sự đau khổ thật là sâu xa, và cũng thật là lâu đời, trong cuộc đời của ông ta, và vì lý do cả thẹn, ông ta giữ kín, par pudeur gardée tue.

Phát giác này về Borges, sự thực, cũng không mới, hay, lạ.
Borges đã từng thú nhận, trong 1 bài thơ, là ông phạm cái tội lớn nhất của 1 con người, khi được Chúa cho ra đời, là…  đếch chịu được hạnh phúc!

REMORSE

I have committed the worst sin of all
That a man can commit. I have not been
Happy. Let the glaciers of oblivion
Drag me and mercilessly let me fall.
My parents bred and bore me for a higher
Faith in the human game of nights and days;
For earth, for air, for water, and for fire.
I let them down. I wasn't happy. My ways
Have not fulfilled their youthful hope. I gave
My mind to the symmetric stubbornness
Of art, and all its webs of pettiness.
They willed me bravery. I wasn't brave.
It never leaves my side, since I began:
This shadow of having been a brooding man.

[Trans. Willis Barnstone]

Coleman: Ông có thể cho biết tại sao ông mê Stevenson. Có cái gì hơn, quá, Đảo Kho Tàng?
Borges: Tôi không nghĩ S. phải giải thích. Nếu bạn đếch cảm S., thì có cái gì hỏng ở nơi bạn. Tôi nhớ tới dòng thơ thần bí của thằng cha Gấu Nhà Văn: BHD là chẳng tại sao. Em cười là em cười. Tôi nghĩ S cũng thế.

COLEMAN: Could you tell us why you love the work of Robert Louis Stevenson? It's more than Treasure Island for you. Can you say why?
BORGES: I don't think Stevenson has to be explained. If you don't sense Stevenson, then there is something wrong about you. I remember  a line out of Angelus Silesius. I am translating his work with Maria Kodama. Angelus Silesius, the seventeenth-century German mystic wrote: Die Ros’ ist ohn' warum,/ sie blubet weil sie blubet, "The rose has no why,/she blooms as she blooms." I suppose that Stevenson has no why either. Besides, why explain Stevenson? It's enough for me to recall some lines of his. And then no explanation is needed:

Under the wide and starry sky,
Dig the grave and let me lie.
Glad did I live and gladly die
And I laid me down with a will

Well, that's sufficient. If that doesn't explain Stevenson to you, then nothing will.

In Memory of Borges

*

9

I Always Thought of  Paradise As a Library  

New York PEN Club,
March 1980

I knew that my destiny would be to read, to dream, well, perhaps to write, but that was not essential. And I always thought of paradise as a library, not as a garden. We also have been created by Edgar Allan Poe, that splendid dreamer, that sad dreamer, that tragic dreamer.

ALASTAIR REID: You once said in London-and I was sitting beside you on the occasion in 197o-that all great literature eventually became children's literature and you hoped in the long run your work would be read by children. Would you like to amplify that?

JORGE LUIS BORGES: Yes. I think that that statement is true, though I said it. For example, the works of Edgar Allan Poe are read by children. I read them when I was a child. The Arabian Nights are read by children. But maybe that's all to the good, since, after all, children read as we should read. They are simply enjoying what they read. And that is the only kind of reading that I permit. One should think of reading as a form of happiness, as a form of joy, and I think that compulsory reading is wrong. You might as well talk of compulsory love or compulsory happiness. One should be reading for the pleasure of the book. I was a teacher of English literature for some twenty years and I always said to my students: if a book bores you, lay it aside. It hasn't been written for you. But if you read and feel passion, then go on reading. Compulsory reading is a superstition.

Borges @ 80

Tôi biết, số phần của tôi, là đọc, mơ, và, có lẽ viết nữa, nhưng cái đó không thiết yếu. Và tôi luôn luôn cho rằng, thiên đàng thì như là một thư viện, không như một cái vườn. Và chúng ta thì được tạo ra bởi Poe, gã mơ mộng thần sầu, bi thương đó.
In Memory of Borges

&

"Bất hạnh của chúng ta, thế giới là thực. Bất hạnh của tôi, tôi là Borges."

*

GCC, tám bó?

Trong lời Bạt, "Thiên Tài của Từ", Genius of the Word, Willis Barnstone (Oakland, 2013) kể giai thoại, khi cuộc chiến Malvinas vào năm 1982, giữa Argentia và Anh, xẩy ra, Borges được hỏi, ai đúng. Borges, tất nhiên đặc Á Căn Đình, nhưng bà ngoại của ông, Ăng Lê, bèn trả lời, đây đúng là cuộc chiến giữa hai anh đầu trọc, vì 1 chiếc lược, "The Falklands thing was a fight between two bald men over a comb".

Phải là 1 thiên tài về từ - một Borges buồn phiền, u uẩn - thì mới có thể chuyển sự phù phiếm của chiến tranh thành 1 ẩn dụ khùng: Only a rueful Borges could turn war’s futility into mad metaphor.

Ông viết, đâu đó, Hitler là kẻ muốn thua, một cách nào đó.
[You wrote about Hitler somewhere that you saw him as a man who wanted to lose, in some way]

Borges. Có, Yes, nhưng có thể trọn câu chuyện này chỉ là “đồ chơi” văn học, a literary game, của tôi. Nhưng mà này, kể từ khi có người ngưỡng mộ Napoleon, thì tại làm sao, không ngưỡng mộ Hitler? Cũng là thứ ăn cướp như nhau. Nếu bạn ngưỡng mộ ăn cướp thì bạn trở thành ăn cướp, chính bạn. Có tên Bắc Kít nào mà không muốn “tâm lý cướp” thay vì, “bị cướp”?

Hà hà!
[Nguyên văn, có tí khác, trên là Gấu “lộng dịch”, từ của 1 vị độc giả ban cho GCC]

THE MOON

for Maria Kodama

There is such loneliness in that gold.
The moon of the nights is not the moon
Which the first Adam saw. The long centuries
Of human vigil have filled her
With ancient lament. Look at her. She is your mirror.

[Trans. Willis Barnstone]

 

A BOOK

Scarcely a thing among things
But also a weapon. It was forged
In England, in 1604,
And they weighted it with a dream. It holds
Sound and fury and night and scarlet.
My palm feels its heaviness. Who could say
It contains hell: the bearded
Witches who are fates, the daggers
Which carry out laws of shadow,
The delicate castle air
That will see you die, the delicate
Hand capable of bloodying the seas,
The sword and shouting of the battle.
That silent uproar sleeps
In the circle of one of the books
On the quiet shelf. It sleeps and waits.

[Trans. Willis Barnstone]

 

Bình loạn của GCC về "Thiên tài từ" của Borges: Thua Thầy Cuốc xứ Mít!
Đẩy sự phù phiếm thành mỹ học, tất nhiên là phải bảnh hơn, ẩn dụ khùng!
Hay là Borges tiên tri ra được, ẩn dụ khùng, nhắm vào ai, vào xứ nào?
In Memory of Borges

Kỷ niệm với Borges

Tôi gặp Borges, lần ông và tôi cùng được một người bạn của tôi, là Victoria Ocampo, mời dùng bữa trưa. Tôi còn được ban cho cái nhiệm vụ tới thư viện quốc gia rước ông, đưa tới căn hộ của bà bạn, vì ông không còn nhìn thấy đường.
Ngay khi cánh cửa thư viện đóng sập lại sau lưng, là cả hai bèn lèm bèm về văn chương. Borges nói về ảnh hưởng của G.K. Chesterton lên ông, và ảnh hưởng của Robert Louis Stevenson lên những truyện ngắn sau này của ông. Ông nói tới văn xuôi của Stevenson như là 1 ảnh hưởng lớn. Tôi bèn chêm ngang, đưa ra nhận xét, Robert Louis Stevenson ít nhất cũng làm được bài thơ bảnh. Một bài thơ về tổ tiên của ông ta. Họ đã dựng lên những ngọn hải đăng lớn ở bờ biển Scotland, và, đụng tới tổ tiên, là gãi đúng chỗ ngứa của Borges.

Bài thơ bắt đầu:

    Say not of me that weakly I declined
    The labours of my sires, and fled the sea,
    The towers we founded and the lamps we lit,
    To play at home with paper like a child.

[Đừng nói về tôi, rằng, 1 cách yếu ớt tôi từ chối,
những công việc của ông cha tôi, và bỏ chạy biển
Những ngọn tháp chúng tôi xây lên, và những ngọn đèn, chúng tôi đốt
Để vui đùa ở nhà với giấy như 1 đứa trẻ]

Đó là 1 con phố ồn ào, đông người, ở Buonos Aires. Borges ngừng lại ở mép hè đường, và đọc trọn bài thơ cho tôi, đúng từng từ, từng chỗ. Sau bữa ăn trưa thoải mái, ông ngồi ở tràng kỷ, và đọc cả 1 lô Anglo-Saxon, và tôi chịu thua không theo kịp. Nhưng tôi nhìn vào mắt ông, khi ông đọc, và thật ngỡ ngàng vì nét biểu hiện của cặp mắt mù. Chúng chẳng có vẻ mù gì hết. Như thể chúng nhìn vô chính chúng, 1 cách tò mò thế nào đó. Và chúng mới sang cả, phong nhã ["đài các như phượng hoàng"] làm sao!
Borges, lẽ tất nhiên, cũng có cùng cảm nghĩ về ông cha của ông, về những “gauchos” của quá khứ. Những chuyện kể của ông sau này, thì đầy truyện của những "gauchos", và trong một, ông viết, “như những người đàn ông của một vài xứ sở, thờ phụng và cảm nhận tiếng gọi của biển, đến lượt đàn ông Á Căn Đình chúng tôi thì bèn vọng về những cánh đồng bạt ngàn không thấy đâu là đường chân trời, trải dài dưới vó ngựa.
Ông là một người đàn ông đởm mật, rất đởm mật. Có 1 dạo, vào thời kỳ ngự trị thứ nhì của Peron, khi ông sống cùng với bà mẹ già, một bữa, có 1 cú điện thoại bí ẩn. Một giọng đàn ông, “Chúng tao tới để làm thịt mi và bà mẹ của mi”. Bà cụ Borges trả lời, “ Ta chín bó rồi, có tới thì tới lẹ lên. Còn về thằng con trai của ta, thì cũng dễ thôi, cho tụi mi, vì nó mù”. Chỉ nội có thế, là đủ cho chúng ta biết, về gia đình của ông, bảnh ra làm sao.
Với tôi, Borges phán, cho tất cả các nhà văn. Nhiều lần, rất nhiều lần, trong những cuốn sách của ông  tôi tìm thấy những câu kệ, chúng là kinh nghiệm của tôi, như là một nhà văn. Ông phán, viết, “một giấc mơ được dẫn dắt”, và trong một lần, ông viết:
Tôi không viết cho một thiểu số được chọn lọc, điều này chẳng có nghĩa gì đối với tôi, cũng không viết cho “Đám Đông”, một thực thể lý tưởng chuyên bợ đít. Chúng, thì đều trừu tượng, thật dễ trở thành trò mị dân, tôi không tin vào cả hai. Tôi viết cho chính tôi, và cho bạn của tôi, và tôi viết để cho qua thì giờ một cách dễ chịu”.
Điều ông nói, theo tôi, làm cho mọi nhà văn cảm thấy gần gụi với ông.

Graham Greene: Reflections

Còn 1 bài viết của Yves Bonnefoy, về Borges, cũng 1 thứ kỷ niệm, đọc rất thú. TV sẽ giới thiệu tiếp. Chúng là những bài viết để cho chúng ta - GCC và độc giả TV, mà theo như server cho biết, đa số đều lớn tuổi - 'to ease the passing of time.'

Yves Bonnefoy, kể là, ông viết thư làm quen với Borges. Ông đếch thèm trả lời. Một bữa, một ông bạn thân của ông, cũng quen Borges, kể cho ông nghe, ông tới gặp Borges, và bị bà vợ kéo ra 1 góc, hỏi về... Ève!
[Yves, đọc giọng Bắc Kít, chắc thế, thành Ève!]
Hóa ra là Borges khoe với vợ, mới nhận được thư của Yves, và bà này lại nghĩ, đây là nàng Ève, cũng 1 thứ “đảo xa” của ông chồng mình!
Và bà này tìm đủ mọi cách để ông chồng đừng gặp Ève!

Note:

Bài trên, hóa ra Gấu [dịch] dịch rồi. Mới kiếm thấy, xin post sau đây, như là 1 cái duyên lẩm cẩm của 1 ông già, trong 1 chuyện tiếu lâm.

Bữa đó, một ông già xin bà vợ cho làm 1 cú dối già. Gần sáng, không biết sao, ông lại xin cú nữa. Bà vợ mắng, hồi hôm, rồi mà! Ông chồng ngượng quá, bèn nói: Đúng là già rồi, mau quên!

Greene: Reflections

Hoài niệm Borges

Tôi muốn kể về cái lần tôi gặp Borges. Tôi được bà bạn Victoria Ocampo mời dùng bữa trưa  có Borges cùng dự, và được phái đi đón ông, tại Thư Viện Quốc Gia, để đưa ông tới căn phòng của bà, bởi vì ông mắt ông mù không còn nhìn thấy đường. Ngay khi cánh cửa thư viện đóng lại phía sau, là chúng tôi bắt đầu nói chuyện văn chương. Borges nói tới ảnh hưởng của G. K. Chesterton, và của Robert Louis Stevension ở hậu thời ở nơi ông. Thơ xuôi của Stevenson ảnh hưởng lớn lên tôi, ông cho biết. Nhân tiện, tôi châm vô 1 cú. Robert Louis Stevenson ít nhất là đã từng làm thơ, và ít nhất, tôi còn nhớ một bài của ông ta. Một bài thật là bảnh. Viết về tổ tiên. Ðã từng xây những ngọn hải đăng lớn nơi bờ biển Scotland, và tổ tiên là một đề tài ruột của Borges.

Bài thơ bắt đầu:

Ðừng nói với tôi chuyện,
tôi chẳng khoái sinh con đẻ cái,
để nối giái tông đường, và,
thay vì vậy,
thì đánh bài chuồn ra biển
Những cái tháp mà chúng ta xây, và những ngọn đèn mà chúng ta thắp
Ðể chơi ở nhà với tờ giấy như một đứa bé.

Con phố Buenos Aires đông người, quá ồn. Borges dừng lại ở hè đường, đọc trọn bài thơ cho tôi nghe, không hỏng một từ. Sau bữa ăn dễ chịu, ông ngồi tại sô pha và lèm bèm tới chỉ về văn chương Anglo-Saxon, tung ra những tảng lớn, như những khúc cây. Tôi chịu, không thể theo kịp. Nhưng nhìn vào mắt ông khi đọc những tảng lớn thơ văn đó, tôi hết sức ngạc nhiên về cái sự biểu hiện của chúng. Chúng chẳng có chi là mù lòa. Nhìn, có cảm tưởng, như thể, chúng nhìn vào chính chúng, một cách thật là kỳ cục, và chúng thật là bảnh, thật thanh lịch, cao nhã.
Borges, tất nhiên cũng có cùng một cảm nghĩ như vậy về tổ tiên, về những “gauchos” trong quá khứ. Những truyện ngắn hậu thời của ông, thì đầy những câu chuyện về những “gauchos”, một trong đó, ông viết, “Thì cũng như những con người của một vài xứ sở thờ phụng và cảm thấy tiếng gọi của biển, người Á Căn Ðình chúng tôi hú vọng về những cánh đồng bạt ngàn sôi reo dưới móng ngựa."
Ông là một người đàn ông can đảm cùng mình. Thời kỳ đệ nhị Peron, một lần, khi ông sống cùng dưới mái nhà với bà mẹ già, thì có 1 cú phôn bí ẩn. Một giọng đàn ông, “Chúng ông tới làm thịt mi, và bà mẹ của mi ngay bi giờ.” Bà cụ Borges trả lời, “ta chín chục bó, tới lẹ lên không không kịp, còn thằng con ta, nó thì mù, chuyện dễ ợt”. Giai thoại này theo tôi đưa ra 1 bức tranh toàn cảnh về gia đình ông. Lần nào cũng như lần ấy, và thật nhiều lần, mỗi lần giở 1 cuốn sách của ông, tôi đều tìm thấy những câu, mà một thằng nhà văn như tôi, cũng từng có kinh nghiệm viết lách, thì thấy, cũng chẳng khác gì kinh nghiệm của tôi!
Ông gọi, viết là một “giấc mơ được dẫn dắt”, và trong một dịp, ông viết:

“Ta đếch viết cho một thiểu số được chọn lọc, chúng là cái chó gì mà viết cho chúng, ta cũng đếch viết cho một thực thể lý tưởng ưa nịnh hót, được biết dưới cái tên “Quần Chúng”. Cả hai lũ khốn, trừu tượng, đó, ta đều không tin, tuy chúng thật là đáng quí đối với những tên mị dân. Ta viết cho chính ta, và cho bạn bè của ta, và ta viết để làm dịu thời gian trôi qua."

Phán như thế, thành ra, bất cứ 1 nhà văn, thứ thiệt, thì đều cảm thấy ông thật gần gụi với họ.




*

*

Borges @ Palerme, 1984
But I looked at his eyes as he recited and I was amazed at the expression in those blind eyes. They did not look blind at all. They looked as if they were looking into themselves in some curious way, and they had great nobility.

&

Borges @ Hotel Village Igea, Palerme, 14 Juin

In Memory of Borges

I would like to recount the occasion on which I met Borges. I was invited with him to lunch by my friend Victoria Ocampo, and I was dispatched to the National Library to lead him to her flat because of his blindness. Almost as soon as the door had shut behind us at the National Library, we began to talk about literature. Borges talked about the influence G. K. Chesterton had had on him and the influence Robert Louis Stevenson had had on his later stories. He spoke of the prose of Stevenson as a great influence. I then interjected a remark. Robert Louis Stevenson did write at least one good poem. A poem about his ancestors. His ancestors had built the great lighthouses on the coast of Scotland, and I knew that ancestors were an interest of Borges'. The poem began,

    Say not of me that weakly I declined
    The labours of my sires, and fled the sea,
    The towers we founded and the lamps we lit,
    To play at home with paper like a child.

It was a very noisy, crowded Buenos Aires street. Borges stopped on the edge of the pavement and recited the whole poem to me, word perfect. After an agreeable lunch, he sat on a sofa and quoted large chunks of Anglo-Saxon. That, I'm afraid, I was not able to follow. But I looked at his eyes as he recited and I was amazed at the expression in those blind eyes. They did not look blind at all. They looked as if they were looking into themselves in some curious way, and they had great nobility.
    Borges too, of course, had this feeling for ancestors, for the gauchos of the past. His later tales are full of stories of the gauchos, and in one of them he wrote, 'Just as men of certain countries worship and feel the call of the sea, we Argentines in turn yearn for the boundless plains that ring under a horse's hooves.'
    He was a man of great courage. At one time, during the second period of Peron, when he was living with his old mother, there was a mysterious phone call. A male voice said, 'We're coming to kill you and your mother.' Borges' mother replied, 'I'm ninety years old, so you'd better come quickly. And as for my son, it will be easy for you, since he is blind.' This, I think, gives a picture of what the family was like.
    To me, Borges speaks for all writers. Over and over again in his books, I find phrases which are my experience as a writer. He calls writing 'a guided dream', and on one occasion he wrote,
    'I do not write for a select minority, which means nothing to me, nor for that adulated platonic entity known as "The Masses". Both       abstractions, so dear to the demagogue, I, disbelieve in. I write for myself and for my friends, and I write to ease the passing of time.'

That, I think, will make every writer feel close to him.

Graham Greene: Reflections

Extract from a talk at the Anglo-Argentine Society, London, 1984. Extracted from In Memory of Borges, edited by Norman Thomas di Giovanni



Kỷ niệm với Borges

Graham Greene

Tôi gặp Borges, lần ông và tôi cùng được một người bạn của tôi, là Victoria Ocampo, mời dùng bữa trưa. Tôi còn được ban cho cái nhiệm vụ tới thư viện quốc gia rước ông, đưa tới căn hộ của bà bạn, vì ông không còn nhìn thấy đường.
Ngay khi cánh cửa thư viện đóng sập lại sau lưng, là cả hai bèn lèm bèm về văn chương. Borges nói về ảnh hưởng của G.K. Chesterton lên ông, và ảnh hưởng của Robert Louis Stevenson lên những truyện ngắn sau này của ông. Ông nói tới văn xuôi của Stevenson như là 1 ảnh hưởng lớn. Tôi bèn chêm ngang, đưa ra nhận xét, Robert Louis Stevenson ít nhất cũng làm được bài thơ bảnh. Một bài thơ về tổ tiên của ông ta. Họ đã dựng lên những ngọn hải đăng lớn ở bờ biển Scotland, và, đụng tới tổ tiên, là gãi đúng chỗ ngứa của Borges.

Bài thơ bắt đầu:

    Say not of me that weakly I declined
    The labours of my sires, and fled the sea,
    The towers we founded and the lamps we lit,
    To play at home with paper like a child.

Đó là 1 con phố ồn ào, đông người, ở Buonos Aires. Borges ngừng lại ở mép hè đường, và đọc trọn bài thơ cho tôi, đúng từng từ, từng chỗ. Sau bữa ăn trưa thoải mái, ông ngồi ở tràng kỷ, và đọc cả 1 lô Anglo-Saxon, và tôi chịu thua không theo kịp. Nhưng tôi nhìn vào mắt ông, khi ông đọc, và thật ngỡ ngàng vì nét biểu hiện của cặp mắt mù. Chúng chẳng có vẻ mù gì hết. Như thể chúng nhìn vô chính chúng, 1 cách tò mò thế nào đó. Và chúng mới sang cả, phong nhã ["đài các như phượng hoàng"] làm sao!




Comments

Popular posts from this blog

Hoàng Hạc Lâu

TDT

Bi Khúc