Thơ Mỗi Ngày Shadow Publishing Company This couple strolling arm in arm Must be figments of someone's revery. They stop often to linger over a kiss, But when people look their way, It's as if they do not see them. It's the heat, the blue dusk, The air of enchantment On the street of overgrown lilacs And screened porches Where a door is already open for them. An old woman waits in the dim entrance With a pitcher of cold lemonade And two tall glasses on a tray. She wants them to rest awhile In her own wedding bed and they obey. Her late husband was an eye doctor. His surgical instruments lie in glass cage Gleaming like cold moonlight In dark cuffs, he made the blind see By removing their bandages. In a room shaded against the heat, With a few slender lines of light On the high ceiling, And that strange sense of taking on the life Of someone unknown just then, Lying there, closing one's eyes in revery, A figment among figments Living one of their blessed moments Without recognizing the century. Only the scent of the lilacs is real. The World's Greatest Ventriloquist Neon at sundown, early shadows Going to meet the one and true darkness. Avenue where I was a child in a shoe box, A soap bubble above the fire escapes, A few endazzled windows at the horizon, The rest shaded, curtained and vacant. The bearded old man on the corner, The one drinking out of a brown paper bag, The one who declares himself The world's greatest ventriloquist, We are all his dummies, he says When he chooses to say anything: Young lovers carrying tall cages With frightened song birds ... Some hoodlum prince waving A hundred dollar bill out of a passing car. The blind doomsayer lifting his board For all to read . . . So, I'm the eat's paw, I said, And went off shadowboxing With my reflection In a row of store windows That already had that seen-a-ghost look Charles Simic The Paris Review Winter 1998 Note: 1998. Đây chắc là số PR đầu tiên của Gấu! Phỏng vấn Steiner, Sontag.The Invisible People here still tell stories About a blind old man Who rolled dice on the sidewalk And paid children In the neighborhood To tell him what number came up. When they were away in school, He'd ask anyone Whose steps he heard, The mailman making his rounds, The undertakers loading a coffin in their black wagon, And you, too, mister, Should you happen to come along.
Kẻ Vô Hình
Người ở đó vẫn truyền tụng Về một ông già mù Thẩy xúc xắc bên lề đường Và giúi tiền cho mấy đứa con nít Để chúng cho ông biết Con lục, hay con nhất. Khi chúng ở lớp học Ông hỏi bất cứ một người Khi nghe tiếng chân Anh đưa thư đi lòng dzòng Đám nhà hòm đưa hòm lên xe tang Hay chính ông, Thưa Ngài Nếu ông lớ ngớ mò tới đó
Note: Bài thơ dài này, của Charles Simic, GNV cảm thấy có 1 cái gì đó, như là 1 ẩn dụ, móc tới "người vô hình" đột nhiên biến thành hữu hình, là Bùi Chát, “khăn đóng áo dài, đứng trên đài cao, nhận giải Tự Do Xuất Bản". Vinh danh thêm bạn, bằng những dòng viết về Brodsky của David Remnick Khi được hỏi ông nghĩ gì về những năm tháng tù đầy, Brodsky nói cuối cùng ông đã vui với nó. Ông vui với việc đi giầy ủng và làm việc trong một nông trại tập thể, vui với chuyện đào xới. Biết rằng mọi người suốt nước Nga hiện cũng đang đào xới "cứt đái", ông cảm thấy cái gọi là tình tự dân tộc, tình máu mủ. Ông không nói giỡn. Buổi chiều ông có thời giờ ngồi làm những bài thơ "xấu xa", và tự cho mình bị quyến rũ bởi "chủ nghĩa hình thức trưởng giả" từ những thần tượng của ông. Hai đoạn thơ sau đây của Auden đã làm ông "ngộ" ra: Time that is intolerant Of the brave and innocent, And indifferent in a week To a beautiful physique, Worships language and forgives Everyone by whom it lives; Pardons cowardice, conceit, Lays its honor at their feet. Thời gian vốn không khoan dung Đối với những con người can đảm và thơ ngây, Và dửng dưng trong vòng một tuần lễ Trước cõi trần xinh đẹp, Thờ phụng ngôn ngữ và tha thứ Cho những ai kia, nhờ họ, mà nó sống; Tha thứ sự hèn nhát và trí trá, Để vinh quang của nó dưới chân chúng. Auden Ông bị xúc động không hẳn bởi cách mà Auden truyền đi sự khôn ngoan - làm bật nó ra như trong dân ca - nhưng bởi ngay chính sự khôn ngoan, ý nghĩa này: Ngôn ngữ là trên hết, xa xưa lưu tồn dai dẳng hơn tất cả mọi điều khác, ngay cả thời gian cũng phải cúi mình trước nó. Brodsky coi đây là đề tài cơ bản, trấn ngự của thi ca của ông, và là nguyên lý trung tâm của thơ xuôi và sự giảng dạy của ông. Trong cõi lưu đầy như thế đó, ông không thể tưởng tượng hai mươi năm sau, khăn đóng, áo choàng, ông bước lên bục cao nơi Hàn lâm viện Thụy-điển nhận giải Nobel văn chương, nói về tính độc đáo của văn chương không như một trò giải trí, một dụng cụ, mà là sự trang trọng, bề thế xoáy vào tinh thần đạo đức của nhân loại. Nếu tác phẩm của ông là một thông điệp đơn giản, đó là điều ông học từ đoạn thơ của Auden: "Sự chán chường, mỉa mai, dửng dưng mà văn chương bày tỏ trước nhà nước, tự bản chất phải hiểu như là phản ứng của cái thường hằng - cái vô cùng - chống lại cái nhất thời, sự hữu hạn. Một cách ngắn gọn, một khi mà nhà nước còn tự cho phép can dự vào những công việc của văn chương, khi đó văn chương có quyền can thiệp vào những vấn đề của nhà nước. Một hệ thống chính trị, như bất cứ hệ thống nào nói chung, do định nghĩa, đều là một hình thức của thời quá khứ muốn áp đặt chính nó lên hiện tại, và nhiều khi luôn cả tương lai."
Tôi hết còn tin vào nơi chốn ấy
 
Một bạn văn vừa cho biết, "lẩn", mới đúng.
Trong bài Biển, của Gấu, “lẫn” mới đúng.
Biển Buổi chiều đứng trên bãi Wasaga Nhìn hồ Georgian Cứ nghĩ thềm bên kia là quê nhà. Sóng đẩy biển lên cao, khi xuống kéo theo mặt trời Không gian bỗng đỏ rực rồi đêm tối trùm lên tất cả Cát ở đây được con người chở từ đâu tới Còn ta bị quê hương ruồng bỏ nên phải đứng ở chốn này Số phận còn thua hạt cát. Hàng cây trong công viên bên đường nhớ rừng Cùng thi nhau vươn cao như muốn trút hết nỗi buồn lên trời Chỉ còn ta cô đơn lẫn vào đêm Như con hải âu già Giấu chút tình sầu Vào lời thì thầm của biển...
22/01/2010 Tôi được đọc bài thơ "Biển" của ông trong Tin Văn, nó làm cho tôi thấy buồn quá. Xin gởi tặng ông hình của "tôi" bên bờ biển, như một lời chào. Trong email trước tôi đã vô lễ gọi ông là "Gấu Nhà Văn", vì đọc Tin Văn liên tiếp suốt mấy ngày liền, khiến tôi nhập tâm. Thực tình, tôi thích cái bút danh đó. Khi tôi chụp hình con hải âu, tôi cứ nghĩ nó là hình ảnh của chính mình. Ai ngờ, tôi lại gặp một con hải âu khác khi đọc bài thơ Biển của ông. Khi nhớ quê hương, kẻ thì "thương nhớ đồng quê", người nhớ Sài Gòn, còn tôi, tôi nhớ biển...
Ui chao mới đó mà đã hơn một năm. Please take care and forgive. NQT
Mấy bài thơ sau đây, của Charles Simic, trong Master of Disguises, là để tặng… Gấu, nhân lễ Phục Sinh!
The Invisible One You read today about a child Kept for years in a closet By his crazy parents On a street you walked often. Busy with your own troubles, You saw little, heard nothing Of what was said around you, As you made your way home Past loving young couples Carrying flowers and groceries, Pushing baby carriages, Hanging back to scold a dog. Kẻ vô hình Bạn đọc báo bữa nay về một đứa trẻ Bị nhốt nhiều năm trong một tủ áo Bởi bố mẹ khùng Ở con phố mà bạn thường đi bộ qua Bận bịu với đủ thứ chuyện của riêng bạn Bạn ít nhìn, chẳng nghe gì hết Về những gì xẩy ra quanh bạn Khi bạn trên đường trở về nhà Vượt qua những cặp vợ chồng yêu thương thắm thiết Ôm hoa, tạp phẩm Đẩy xe con nít Chùn bước lại một tí để la con chó. Private Miseries More than this crippled veteran playing the banjo, I have no right to grumble, More than this old woman cracking open her purse To give him a quarter, Lest they both take offense and beat me On the head with one of his crutches. My own anguish must remain unspoken, Hidden behind a firm stride and a smile. One day I knelt down and cursed God For all the suffering and injustice he consents to. Since then, I have felt even more alone. Like a lifelong widower forever unconsoled I pass the homeless huddled in doorways Upon a winter morning and dare not Grouse about my own sleepless night, And my cold feet that make me hurry past them. Những nỗi khốn khổ mình ên Hơn cả cái anh cựu binh VNCH, già què, đang từng tưng với cây đàn băng dzô Tớ đếch có quyền càu nhàu Hơn cả cái bà già đang cố mở bóp lấy mấy nghìn Cụ Hồ cho ông lính Ngụy già què Cứ để cho họ cảm thấy bị tổn thương và đập vào đầu tớ Với một trong những cây nạng Cái nỗi thống khổ của riêng tớ phải được nín khe, Và được giấu ở bên dưới bước đi mạnh mẽ, và nụ cười. Một bữa tớ quỳ xuống và nguyền rủa Thượng Đế Về bao đau khổ và bất công mà ông ta cứ nhè tớ mà trút xuống Kể từ đó, tớ cảm thấy cô đơn còn hơn bao giờ hết Như một bà goá cả đời không hề được an ủi. Tớ đi qua một đám người vô gia cư láo nháo ở hành lang Một buổi sáng mùa đông và không dám Càu nhàu về một đêm mất ngủ của riêng tớ Và đôi chân lạnh giá của tớ càng khiến tớ vội vã đi qua họ And Who Are You, Sir? I'm just a shuffling old man, Ventriloquizing For a god Who hasn't spoken to me once. The one with the eyes of a goat Grazing alone On some high mountain meadow In the long summer dusk. Nhưng Ngài là Ai, hử Ngài? Tớ chỉ là một tên già lê lết Nói chuyện bằng bụng Về một ông trời Chưa từng nói với tớ một lần Kẻ có đôi mắt dê Thả dê một mình Trên cánh đồng cỏ trên núi cao Vào một hoàng hôn dài mùa hè
Foreword by Nadezhda Mandelstam I think that the most difficult task in the world is the translation of verses, particularly of a true poet, in whose verses there is no discrepancy between the form and the content (or meaning) - both of them always new and but a bit different (with no great disparity between them) - and where the ego of the poet is always strikingly felt. Marina Tsvetayeva said she could write as Mandelstam did but that she didn't want to. She was a great poet but she was greatly mistaken. She could be influenced by Mayakovsky and Pasternak and remain Tsvetayeva because they were innovators and therefore easily aped. But Mandelstam composed verses in tradition, which is far more difficult to imitate. Mr Robert Lowell's translations are very free; Mr Paul Celan's into German also free. But both are a very far cry from the original text. As far as I know the translations of Mr Greene are the best I ever saw. I can't give my opinion about the Italian translations, as I don't know Italian as well as English, French and German. As for Elsa Triolet's, they are as naive and vulgar as she was. Mandelstam said that the contents are squeezed from the form as water from a sponge. If the sponge is dry, there would be no moisture at all. So, to render the content - which Mr Greene has succeeded in doing - is to give, in a way, the form or harmony, the harmony which can't be rendered in translation, the harmony which is quite simple and at the same time mysteriously complicated. Poetry is a mystery. Nadezhda Mandelshtam, 1976 Tôi nghĩ khó khăn nhất trên thế gian này là cái chuyện dịch thơ, nhất là của thi sĩ thực, trong những câu thơ đó, thì không có phân chia, khác biệt giữa hình thức và nội dung (hay là nghĩa thơ] - cả hai luôn luôn mới, nhưng với 1 tí khác biệt (không có phân cách lớn giữa chúng) – và đó là nơi mà cái tôi của thi sĩ luôn luôn rung động và làm cho chúng ta cảm thấy được – Marina Tsvetayeva nói, bà có thể làm thơ được như Mandelstam, nhưng bà không muốn làm. Bà là một nhà thơ lớn, nhưng bà lầm lẫn nặng, khi phán như thế. Bà có thể bị ảnh hưởng bởi Mayakovsky và Pasternak, nhưng vẫn là bà, nhà thơ Tsvetayeva, bởi vì họ là những nhà thơ canh tân, do đó dễ có người mô phỏng, làm theo; dễ có đệ tử. Nhưng Mandelstam làm những bài thơ theo truyền thống, thật khó bắt chước. Những bài thơ dịch của Robert Lowell thì theo kiểu thơ tự do; Paul Celan chuyển qua tiếng Đức cũng theo kiểu thơ tự do. Nhưng cả hai đều là tiếng kêu la thật xa với nguyên tác. Như tôi hiểu được, thì những bản dịch của Greene là số một, mà tôi từng thấy. Tôi không dám đưa ra ý kiến về những bản dịch tiếng Ý, vì tôi không biết tiếng Ý, so với tiếng Anh, Pháp, và Đức. Về những bàn thơ dịch của Elsa Triolet, chúng mới khờ khạo làm sao, và tầm phào, như bà vẫn vậy. Mandelstam nói, nội dung thì được vắt ra khỏi hình thức, như vắt 1 cái bọt biển. Nếu một cái khăn bằng bọt biển mà khô, thì chẳng có tí ẩm nào được vắt ra. Như thế, đưa ra nội dung – như Greene thành công trong việc làm như thế - là, một cách nào đó, cho nó một hình thức hay sự hài hòa, một sự hài hòa thật khó có trong dịch thuật, một sự hài hoà hoàn toàn giản dị, và cùng lúc, rắc rối thật bí ẩn. Thơ là một huyền nhiệm.
You took away my seas and running jumps and sky And propped my foot against the violent earth. Where could this brilliant calculation get you? You couldn't take away my muttering lips. (307) May 1935 Bản tiếng Pháp: En me privant des mers, de l'élan, de l'envol Pour donner à mon pied l'appui forcé du sol: Quel brillant résultat avez-vous obtenu? Vous ne m'avez pas pris mes lèvres qui remuent!
Mi lấy của ta Biển -Trời - Nhịp Đời Cùm chân ta vào đất: Làm sao mi cấm môi ta run?
My country conversed with me, Spoiled me, scolded, didn't listen. She only noticed me when, Grown-up, I became an eye-witness. Then suddenly, like a lens, she set me on fire With a beam from the Admiralty spire. (part 6 of 312) May-June 1935
Xứ sở của ta nói với ta, Nuông chiều ta, gắt gỏng với ta, không nghe ta nói. Nó chỉ để ý đến ta khi, Trưởng thành, ta trở thành một chứng nhân bằng mắt. Và thế là bất thình lình, như thấu kính hội tụ Nó chiếu vào ta, và làm bật cháy Với ngọn lửa từ Ngọn Đỉnh Trời I shall not return my borrowed dust To the earth, Like a white floury butterfly. I will this thinking body This charred, bony flesh, Alive to its own span - To turn into a street, a country. (from 320) 21 July 1935
Ta không muốn, như một cánh bướm trắng kia, Trả lại mặt đất chút tro than vay mượn. Ta muốn cái thân xác này Biến thành ngã tư, ngã năm, ngã bẩy, Thành phố, thành đường.... [Note: Gửi Cù Hậu Duệ. NQT]
Mấy dòng thơ sau đây, của Mandelstam, để tặng con phố mang tên ông. Như Phố TCS !
What street's this one? - 'This is Mandelstam Street. His disposition wasn't "party-line" Or "sweet-as-a-flower". That's why this street - Or, rather, sewer Or possibly slum - Has been named after Osip Mandelstam.' Con phố nào đây? -Phố Mandelstam Sao không có tí ‘đường lối của Đảng’ Hay ‘đẹp như thơ, ngọt như hoa’ Chắc vì thế mà có con phố như thế này – Hay, tốt hơn, thì là một cái cống rãnh Hay, có thể, phố ổ chuột- được đặt tên theo nhà thơ Mandelstam Sau khi Stalin chết, Mandelstam được ‘phục hồi’, nhưng vẫn chưa có con phố nào được đặt tên nhà thơ, ở toàn xứ Liên Xô Bắc Kít, mê tiếng Nga, mê Cách Mạng Nga, mê kít Nga, thành thử Gấu phải chọn 1 nhà thơ Nga vinh danh Cù Hậu Duệ, để cho chúng biết Nga đâu phải chỉ có thứ thơ xúi người ta giết người, và phải chọn đúng cái ông làm thơ chửi Stalin, và chết ở trong tù, làm gì có thứ thi sĩ ngồi viết tự kiểm, xin tha, về nhà, để… làm thơ! Trong bài Tựa cho tập thơ của chồng, bà vợ chỉ ra sự khác biệt giữa thơ canh tân, và thơ truyền thống, đúng vấn đề chúng ta đang đụng phải, khi nghĩ tới thơ lục bát của xứ Mít. Có gì dễ bằng làm thơ lục bát, và có gì cực khó, làm thơ lục bát? Gấu thấy nhan nhản thơ lục bát ở trên lưới, sợ quá đến hết dám đọc!
 
Một bạn văn vừa cho biết, "lẩn", mới đúng.
Trong bài Biển, của Gấu, “lẫn” mới đúng.
Biển Buổi chiều đứng trên bãi Wasaga Nhìn hồ Georgian Cứ nghĩ thềm bên kia là quê nhà. Sóng đẩy biển lên cao, khi xuống kéo theo mặt trời Không gian bỗng đỏ rực rồi đêm tối trùm lên tất cả Cát ở đây được con người chở từ đâu tới Còn ta bị quê hương ruồng bỏ nên phải đứng ở chốn này Số phận còn thua hạt cát. Hàng cây trong công viên bên đường nhớ rừng Cùng thi nhau vươn cao như muốn trút hết nỗi buồn lên trời Chỉ còn ta cô đơn lẫn vào đêm Như con hải âu già Giấu chút tình sầu Vào lời thì thầm của biển...
22/01/2010 Tôi được đọc bài thơ "Biển" của ông trong Tin Văn, nó làm cho tôi thấy buồn quá. Xin gởi tặng ông hình của "tôi" bên bờ biển, như một lời chào. Trong email trước tôi đã vô lễ gọi ông là "Gấu Nhà Văn", vì đọc Tin Văn liên tiếp suốt mấy ngày liền, khiến tôi nhập tâm. Thực tình, tôi thích cái bút danh đó. Khi tôi chụp hình con hải âu, tôi cứ nghĩ nó là hình ảnh của chính mình. Ai ngờ, tôi lại gặp một con hải âu khác khi đọc bài thơ Biển của ông. Khi nhớ quê hương, kẻ thì "thương nhớ đồng quê", người nhớ Sài Gòn, còn tôi, tôi nhớ biển...
Mấy bài thơ sau đây, của Charles Simic, trong Master of Disguises, là để tặng… Gấu! The Invisible One You read today about a child Kept for years in a closet By his crazy parents On a street you walked often. Busy with your own troubles, You saw little, heard nothing Of what was said around you, As you made your way home Past loving young couples Carrying flowers and groceries, Pushing baby carriages, Hanging back to scold a dog. Kẻ vô hình Bạn đọc báo bữa nay về một đứa trẻ Bị nhốt nhiều năm trong một tủ áo Bởi bố mẹ khùng Ở con phố mà bạn thường đi bộ qua Bận bịu với đủ thứ chuyện của riêng bạn Bạn ít nhìn, chẳng nghe gì hết Về những gì xẩy ra quanh bạn Khi bạn trên đường trở về nhà Vượt qua những cặp vợ chồng yêu thương thắm thiết Ôm hoa, tạp phẩm Đẩy xe con nít Chùn bước lại một tí để la con chó. Private Miseries More than this crippled veteran playing the banjo, I have no right to grumble, More than this old woman cracking open her purse To give him a quarter, Lest they both take offense and beat me On the head with one of his crutches. My own anguish must remain unspoken, Hidden behind a firm stride and a smile. One day I knelt down and cursed God For all the suffering and injustice he consents to. Since then, I have felt even more alone. Like a lifelong widower forever unconsoled I pass the homeless huddled in doorways Upon a winter morning and dare not Grouse about my own sleepless night, And my cold feet that make me hurry past them. Những nỗi khốn khổ mình ên Hơn cả cái anh cựu binh VNCH, già què, đang từng tưng với cây đàn băng dzô Tớ đếch có quyền càu nhàu Hơn cả cái bà già đang cố mở bóp lấy mấy nghìn Cụ Hồ cho ông lính Ngụy già què Cứ để cho họ cảm thấy bị tổn thương và đập vào đầu tớ Với một trong những cây nạng Cái nỗi thống khổ của riêng tớ phải được nín khe, Và được giấu ở bên dưới bước đi mạnh mẽ, và nụ cười. Một bữa tớ quỳ xuống và nguyền rủa Thượng Đế Về bao đau khổ và bất công mà ông ta cứ nhè tớ mà trút xuống Kể từ đó, tớ cảm thấy cô đơn còn hơn bao giờ hết Như một bà goá cả đời không hề được an ủi. Tớ đi qua một đám người vô gia cư láo nháo ở hành lang Một buổi sáng mùa đông và không dám Càu nhàu về một đêm mất ngủ của riêng tớ Và đôi chân lạnh giá của tớ càng khiến tớ vội vã đi qua họ And Who Are You, Sir? I'm just a shuffling old man, Ventriloquizing For a god Who hasn't spoken to me once. The one with the eyes of a goat Grazing alone On some high mountain meadow In the long summer dusk. Nhưng Ngài là Ai, hử Ngài? Tớ chỉ là một tên già lê lết Nói chuyện bằng bụng Về một ông trời Chưa từng nói với tớ một lần Kẻ có đôi mắt dê Thả dê một mình Trên cánh đồng cỏ trên núi cao Vào một hoàng hôn dài mùa hè
Among the Exiles One met former cabinet ministers, University professors, defrocked priests and officers, Feeding pigeons from a park bench, Squinting into foreign newspapers And telling anyone who happened to ask Not to bother their heads about the truth. On the use of murder to improve the world They had many vivid memories As they huddled in their dim kitchens, Clipping supermarket coupons, Shifting the loose dentures in their mouths While waiting for the teakettle to boil. They ate in restaurants with waiters older than themselves, Musicians whose fingers bled As they picked at their instruments Making some tipsy widow burst into sobs On hearing a tune her husband the general loved, The one who sent thousands to their deaths.
Giữa những Lưu Vong Người ta gặp những cựu bộ trưởng Giáo sư đại học, tu sĩ mất áo tu, sĩ quan mất quân phục, Cho bồ câu ăn ở băng ghế công viên, Liếc tờ báo chợ Và biểu người nào tính hỏi, Này, đừng có bực mình, lúc lắc cái đầu, khi biết sự thực Về cái việc sử dụng sát nhân để cải thiện thế giới Họ có nhiều kỷ niệm sống động Khi quay mòng mòng trong căn bếp tối thui Cắt cắt mấy cái phiếu siêu thị Xốc xốc bộ răng giả trong miệng Trong khi chờ ấm nước pha trà sôi Họ ăn trong những tiệm bồi bàn già hơn họ Nhạc sĩ bấm đàn bằng những ngón tay rướm máu (1) Làm một bà góa ngà ngà say, khóc nức nở Khi chơi một điệu nhạc mà ông chồng đại tướng ngày nào của bà thích nghe Ông tướng này đã từng ra lệnh làm thịt hàng ngàn người Charles Simic: Master of Disguises (1) Charles Simic chắc là có đọc Kiều rồi, nên thuổng, như đám mũi lõ thuổng nhạc Trịnh, “nghi án” đang gây chấn động trong giới giang hồ Mít ở trong nước: "bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay" !!! Ui chao, Gấu lại nhớ đến cảnh nàng Kiều họ Trịnh hầu đàn Hồ Tôn Hiến! The Empress My beloved, you who spend your nights Torturing me By holding up one mirror after another To me in the dark, If there's anything I know to say or do today, I merit no praise for it, But owe it to the subtlety of your torments, And your perseverance in keeping me awake. All the same, who gave you the right To judge me in my wretchedness? What soul white as snow Compiled this endless list of misdeeds You read to me every night? The airs you put on when I tell you to stop Would make one believe You were once a bedmate of a Chinese emperor. I like it best when we do not say a word. When we lie side by side Like two lovers after their passion is spent. Once again, day is breaking. A small bird in the trees is pouring her heart out At the miracle of the coming light. It hurts. The beauty of a night spent sleepless. Nữ Hoàng Người yêu ơi, hằng đêm Tra tấn anh Bằng cách cầm hết gương này tới gương khác Cho anh soi trong bóng tối, Nếu có điều gì anh biết và nói ra, hay thực hiện, bây giờ Anh thật chẳng đáng để mà ngợi khen Nhưng anh nợ em ở cái trò tra tấn thật là tinh vi thật là ly kỳ thật là tinh tế đó! Và ở cái sự lì lợm của em, làm sao giữ cho anh lúc nào cũng tỉnh thức. Thì cũng vậy thôi, ai cho phép em cái quyền phán đoán anh, Trong tình trạng khốn khổ khốn nạn như thế? Linh hồn nào trắng như tuyết Chứa trong nó cái danh sách thật dài toàn những điều xấu xa, đê tiện Em đọc cho anh nghe hằng đêm? Cái dáng điệu của em khi anh năn nỉ, hãy xì tốp, Làm cho anh nghĩ rằng, Em có thời là bạn giường của hoàng đế Trung Hoa. Anh mê nhất khi chúng ta chẳng ai nói một lời Khi nằm bên nhau Như hai người yêu cạn sạch đam mê Ngày lại tới Một cô chim nhỏ, trên cành cây, hót đến bật trái tim ra khỏi lồng ngực. Khi chứng kiến phép lạ ánh sáng lại xuất hiện Nó làm đau. Cái đẹp của một đêm ‘mật ngữ” (1) Charles Simic: Master of Disguises “Dem Mat Ngu”, tên một bài viết của HPNT, về Trần Dần, *
Trần Anh Thái: Trong tập "Lửa Thiêng" chỉ có tám bài thơ lục bát, bài nào cũng toàn bích, nhà thơ có bí quyết gì? Huy Cận: Ấy là bản năng thơ, tôi không có bí quyết gì, không có lý luận gì, thơ là thiên bẩm. Source
đẹp xưa Ngập ngừng mép núi quanh co, Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang… Vi vu gió hút nẻo vàng; Một trời thu rộng mấy hàng cây cao. Dừng cương nghỉ ngựa non cao, Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon... Đi rồi, khuất ngựa sau non; Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu... Trơ vơ buồn lọt quán chiều, Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người Note: Bài thơ này, sử dụng hệ thống tọa độ ba trục.Trục hoành, thí dụ, thu rộng.Trục tung: non caoTrục thứ ba, là trục thời gian, và thời gian, như Brodsky phán: Bao thơ tôi ít nhiều chi là về thời gian, về thời gian làm gì con người.Những héo hon, lữ thứ, buồn theo hút người... là nói về "thời gian làm gì con người".
Cái tít "đẹp xưa" [đẹp cổ điển] là theo nghĩa đó. NQT
Bài thơ trên Gấu chép lại từ tập Lửa Thiêng của nhà sách Sống Mới. Nhưng một độc giả TV cho biết mây nao mới đúng. Trần Mạnh Hảo, trong bài viết về HC, ghi là mây nao. Tks. NQT Cách giải thích bài thơ, như trên, là Gấu phịa ra, mượn ý niệm trục tọa độ, trong toán. TMH viết: Trong 50 bài "Lửa thiêng", chỉ có 8 bài thơ lục bát :" Buồn đêm mưa", " Trông lên", "Chiều xưa", "Đẹp xưa", " Thuyền đi", "Xuân ý ", "Thu rừng" và "Ngậm ngùi". Nhưng nếu không có 8 bài thơ lục bát này, "Lửa thiêng " dù có nhiều bài thất ngôn hay ví như "Tràng giang" thì cũng chưa thể làm nên một Huy Cận vượt thời gian như đã có. Nguyễn Du đại thiên tài lục bát, đã đưa nhịp sáu tám Việt Nam lên tới đỉnh mây trời nhân loại. Nguyễn Du từng ít nhiều ảnh hưởng lục bát ca dao, ảnh hưởng lục bát của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều để làm ra hàng nghìn câu thiên thu tuyệt diệu riêng mình. Thấm đẫm hồn thơ cha ông, Huy Cận đã hiện đại hóa câu thơ sáu tám Việt Nam. Ông như người kế thừa trung thành của phả hệ lục bát Nguyễn Du rồi phát triển nó về u tịch. Đọc thơ lục bát Huy Cận, cơ hồ như hồn Nguyễn Du phảng phất đâu đây, như thể bút thần xưa được hậu thế cầm lên viết tiếp, như bài " Đẹp xưa": "Ngập ngừng mép núi quanh co Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang... Vi vu gió hút nẻo vàng Một trời thu rộng mấy hàng mây nao Dừng cương nghỉ ngựa non cao Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon Đi rồi khuất ngựa sau non Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu Trơ vơ buồn lọt quán chiều Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người..." Câu thơ "Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang" trên của Huy Cận làm ta nhớ đến "Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia "của Tố Như xưa. Huy Cận lấy hồn muôn năm trước mà hiện đại hóa câu thơ lục bát bây giờ, như gió xưa vàng đẫm lá thu nay :" Vi vu gió hút nẻo vàng ". Ngọn gió Huy Cận mặc áo vàng nghìn thu mà hun hút, mà nghiêng nghiêng mái chữ, mái-hiên-người, cũng là mái thơ :" Mái nghiêng nghiêng gởi buồn theo hút người". Cũng như bài "Đẹp xưa", bài lục bát "Buồn đêm mưa" và bài "Chiều xưa" hay đến từng câu từng chữ. Cái buồn Huy Cận nơi đây đẹp đến rụng rời, đẹp đến ngơ ngác, hoang vu. *
Trần Mạnh Hảo là một nhà thơ, nhưng khi ông viết phê bình, qua những dòng trên, về Huy Cận, thì có vẻ cũng 1 thứ phê bình tán phó mát, rông rài với mớ chữ. Thí dụ nhận xét này của ông: Thấm đẫm hồn thơ cha ông, Huy Cận đã hiện đại hóa câu thơ sáu tám Việt Nam. Hiện đại hóa, như thế nào, ông không giải thích. Lấy thí dụ, với Cung Trầm Tưởng, và dòng lục bát, mà Gấu nhớ lõm bõm: Tháng Giêng buốt sẻ đôi đằng nửa chì mưa đục, nửa băng giá hồn Tuyệt cú! Trước, đâu có ai làm lục bát như thế? Bảo Huy Cận “hiện đại hóa lục bát”, Gấu sợ nói ngược, HC làm cho nó cổ mãi ra, trở thành sầu thiên cổ, sầu vạn cổ, thí dụ hình ảnh sau đây, mà chẳng là đẩy cái hiện tại về tới ngàn xưa:
Đồn xa quằn quại bóng cờ, Phất phơ buồn tự thuở xưa thổi về.
Bởi vậy mà Hoài Thanh – Hoài Chân, từ Mars, 1941, đã phán về ông: Có người sẽ bảo thơ Huy Cận già… Tôi thấy thơ Huy Cận trẻ lắm. Chỉ hai từ trẻ/già này đủ nói lên cõi thơ HC, nhất là với những bài lục bát của ông. Gấu sẽ lèm thêm, về cặp già/trẻ, hay, hiện đại/cổ điển. Cẩn. NQT Note: Cái này là vinh danh ông bố, chờ VC làm thịt ông con! NQT Huy Cận Chiều Xưa Buồn gieo theo gió veo hồ, Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa. Đồn xa quằn quại bóng cờ, Phất phơ buồn tự thuở xưa thổi về. Ngàn năm sực tỉnh, lê thê Trên thành son nhạt - Chiều tê cúi đầu... Bờ tre rung động trống chầu, Tưởng chừng còn vọng trên lầu ải quan, Đêm mơ lay ánh trăng tàn, Hồn xưa gửi tiếng thời gian, trống dồn.
Bản in trong tập thơ Lửa Thiêng, nhà sách Sống Mới, tái bản tại Huê Kỳ
Thursday, April 21, 2011 1:18 AM Thưa bác Gấu: Câu thứ tư khổ đầu bài Đẹp xưa, nếu tôi nhớ không nhầm, phải là: Một trời thu rộng mấy hàng mây nao Vả lại, tác giả Lửa thiêng không phải là nhà thơ mới vào nghề, đến nỗi phải mắc lỗi lặp lại âm tiết “cao” trong câu thơ kế tiếp Kính DV Note: Bài thơ Ðẹp Xưa, khi đánh máy, post lên, là Gấu đã biết sai rồi. Tính để sáng coi lại, và, kể như suốt đêm băn khoăn với vấn nạn, “không phải cây cao, chắc chắn rồi, nhưng thế thì nó là cái gì?” Tới 4 giờ sáng thì thức giấc, thấy cái mail của độc giả DV, mới ơ rơ ka 1 tiếng, hoá ra là như vậy! Tks again. NQT
Nothing reveals a poet's weakness like classic verse and that why it's so universally dodged Brodsky [Intro to Anna Akhmatova's Poems, selected and edited by Lyn Coffin. Norton] Không gì tố cáo cái yếu kém của một nhà thơ cho bằng thơ cổ điển, và chính vì thế mà mấy nhà thơ Mít dởm của chúng ta tránh nó như tránh... hủi! Thơ lục bát: Một duyên phận long đong TYT
Note: Tay này đặt ngược vấn đề! Thơ lục bát không long đong, nhưng nhà thơ long đong, nếu đụng vô nó, mà không đủ nội lực. Đây là nhận định của hơn 1 nhà văn, nhà thơ, trên thế giới, khi cho rằng, ‘truyền thống’, trong có lục bát, tất nhiên, là một thách đố, đối với những nhà thơ dởm, và chính vì nó, truyền thống [ở đây, là lục bát], mà đẻ ra ba thứ thơ nhảm nhí, như tự do, không vần, tân hình thức, những nhà thơ cách tân, canh tân, hậu vệ, mở miệng....! Trong quá khứ, cũng có hơn 1 nhà thơ Mít, đụng vô lục bát, mà thành công, thí dụ, Cung Trầm Tưởng, [Bùi Giáng nữa, ở 1 số bài, thí dụ như khi ông dịch Apollinaire], Đồng Đức Bốn, Viên Linh, [nhớ đại khái vài cái tên] TTT phải đến khi vô tù mới trở lại được với truyền thống, một phần là vì hoàn cảnh, cái khó nó bó cái khôn, nhưng theo Gấu, chính ở trong tù ông mới ngộ ra được truyền thống, một phần là do, cái gọi là bạo lực trong thơ của ông tới được cõi viên mãn của nó: thiền. Source
|
|
Comments
Post a Comment