SN
Quà SN của K.
PHỎNG VẤN DỞM
Phỏng vấn dởm. Phỏng vấn tưởng tượng. Nói chuyện với đầu gối. Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ [Thanh Tâm Tuyền]. Một Thế Giới Của Riêng Tôi, Nhật Ký Mơ, A World of My Own, A Dream Diary [Graham Greene]. Tôi Nhìn Tôi Trên Vách [Tuý Hồng]. Borges và “Borges”… “Chẳng lẽ Gấu mà không phải là… Gấu ư?”, mỗi một cái tên như thế, là một chút khác biệt.
Nhưng có lẽ, tới một lúc nào đó, đây là một cách nhìn lại. Theo kiểu mở ra Cuốn Sách Của Bạn Tôi, của Anatole
Nhưng muộn màng hơn:
Thay vì “ở giữa”, “au milieu du chemin de la vie", thì là “ở cuối đường đời”.
Hay mượn câu thơ của chính Gấu:
Ngoảnh nhìn lại quãng nửa nhà nửa chợ,
Nỗi buồn vạch một nét dài.
Thay vì :
Hãy ngủ đi, các con thân yêu,
Ngày mai chúng ta lên đường
Thì là:
Hãy ngủ đi, mấy đứa cháu nội, cháu ngoại
Ngày mai, ông đi luôn...
Thì cứ coi đây là một cõi mơ, như đã từng trải qua quá nhiều cõi mơ trong đời.
-Gấu viết văn từ hồi nào?
Có lẽ nên đặt câu hỏi như thế này: Cái ý tưởng viết văn đó, nó đến với Gấu vào một lúc nào, hay vào những lúc nào.
Một trong những ao ước sau này mình sẽ viết văn, có lẽ đã xẩy ra, khi nghĩ rằng văn chương hơn toán học.
Hồi học trung học, Gấu nổi tiếng là giỏi toán. Nhà nghèo, may nhờ bà cô làm me Tây, nên Gấu được ra Hà Nội học. Ông Tây già, chồng bà cô là một kỹ sư sở Hoả Xa Đông Dương. Chính Ông Tây đã khám phá ra tài toán của Gấu, và có thể chính ông đã [ngầm] khuyến khích bà cô lo cho Gấu. Bởi vì khi Gấu vào Nam, học ở Sài Gòn, bà cô từ Pháp vẫn tiếp tục gửi tiền về cho thằng cháu.
Đam mê toán của Gấu lần đầu tiên bị khựng lại, và có thể, đam mê viết bắt đầu nhen nhúm, là như thế này:
Năm học Đệ Ngũ, Gấu có một người bạn là Ngô Khánh Lãng. Thân lắm. Lần đó, Gấu lần mò, tự mình tìm ra phương trình đường thẳng [y= ax+b], bèn chạy đi khoe với anh bạn Ngô Khánh Lãng. Anh coi, đưa mắt nhìn thằng bạn như tỏ vẻ thương hại, và trong khi Gấu đứng trố mắt mắt ra vì ngạc nhiên, tại làm sao thằng bạn mình nhìn mình như thế, anh vô trong nhà, lấy ra một cuốn sách đại số, lật đúng đoạn giải thích phương trình đường thẳng. Đọc, Gấu ngỡ ngàng. Cách giải ở trong sách ngắn, gọn, dễ hiểu, so với cách của Gấu.
Sau ngỡ ngàng, là thất vọng. Thất vọng như chưa từng biết thất vọng là gì. Những kẻ đến cái thế giới này muộn màng như Gấu, chẳng còn có cái gì để mà khám phá! Loài người khám phá sạch rồi!
Nhưng đó là về toán học, khoa học.
Mơ hồ, Gấu nhận ra, rằng cái nỗi thất vọng của Gấu đó, chỉ có Gấu mới diễn tả ra được. Không có ai “khám phá” giùm cho Gấu được. Chỉ có mỗi một Gấu. Và Gấu là độc nhất!
*
-Với mối tình lớn thứ nhì, văn chương, chắc chắn vĩ đại hơn cả mối tình đầu - là toán học đó - ông có gặp nỗi thất vọng nào không?
Có, và còn thê thảm hơn lần đầu nhiều!
-Thế hả? Kể cho nghe tí đi.
Cứ tạm gọi nó là nỗi thất vọng, hay kinh nghiệm: Bếp Lửa…
Nghe thấy rồi!
Nhất Linh, khi viết Đôi Bạn, lăm lăm với ý tưởng, phải làm bật lên hai nhân vật chính là Loan và Dũng, cùng với nó, là một thế giới cũ, mà hai người bị nó nghiền nát, đưa tới một cô Loan giết chồng sau đó. Cứ tạm coi, “nghĩa chính” của cuốn chuyện là Loan. Nhưng về già, khi viết Viết và Đọc tiểu thuyết, ông nhận ra, nhân vật phụ là Hà lại nổi lên lấn át nhân vật chính. Cái cảnh từ giã giữa người yêu và cô khép lại cuốn truyện mới tuyệt vời làm sao! Anh chàng tới từ giã người yêu, để đi làm cách mạng, nghĩ trong bụng, chắc là căng lắm. Nàng tuy căng lắm, nhưng cứ tỉnh như không. Chàng ra về, trên đường, bóp chuông xe đạp leng keng, như một nỗi vui nho nhỏ, rằng cuộc chia ly đã không thê thảm như là chàng nghĩ. Tiếng chuông vọng tới tai người yêu, nàng “đau” lắm, đau hơn cả nỗi đau chia ly [Hà bị bịnh lao, nghĩa là chẳng bao giờ có cơ hội gặp lại người yêu], bĩu môi, buông một câu:
-Nghe thấy rồi!
Đây mới là “nghĩa chính” của Đôi Bạn, mà đến chót đời Nhất Linh mới nhận ra!
*
Chiếc Lư Đồng Mắt Cua của Nguyễn Tuân cũng kết thúc bằng một câu cà chớn như vậy:
-Xuyến người bên lương hay là bên giáo?
Hay câu kết của Bếp Lửa, nói lên ý nghĩa của bếp lửa:
-Anh yêu em, yêu quê hương vô cùng.
Câu nói đó, là câu nói của bao nhiêu năm sau này, của bao nhiêu con người sau này, đã sống sốt cuộc chiến, sống sót cuộc bỏ chạy, sống sót biển cả, sống sót cuộc hội nhập nơi xứ người - như tiếng chuông xe đạp leng keng vọng về Quê Nhà.
-Nghe thấy rồi!
Chúng ta tự hỏi, có gì nối kết những câu nói tưởng như bình thường, vô nghĩa đó?
*
Đi và về cùng một nghĩa như nhau.
Chúng ta đều biết, với những phi hành gia, căng nhất, là lúc trở lại, nhập vào bầu khí quyển. Sơ xuất một chút, là, hoặc phi thuyền bị trượt, biến thành con tầu ma, hoặc bị lực ma sát biến thành một trái cầu lửa.
Bạn cứ coi một chuyến du hành vũ trụ như thế, là một lần… viết! Vạn sự khởi đầu nan, phi thuyền Challenger là một chứng cớ hiển nhiên cho thấy, câu mở [một truyện ngắn, truyện dài, một giả tưởng…] đầy “máu me, sinh tử…” như thế nào. Nhưng những câu kết, như trên cho thấy, những “anh yêu em như yêu quê hương” [Bếp Lửa], “nghe thấy rồi” [Đôi Bạn], “Xuyến người bên lương hay là bên giáo”… chúng có một cái gì giống nhau của một khép lại, trở về, như sau một chuyến du hành vũ trụ. Viết… hỏng nó, là bạn bị trượt, biến thành một con tầu ma, nghĩa là trở nên khùng khùng điên điên, không biết mình sống hay là mình chết, giữa hai thế giới, là, thế giới thực, và thế giới ảo [thế giới của những con chữ]. Liệu có thể coi đây là tình trạng tẩu hoả nhập ma? Liệu có thể giải thích, đây là trường hợp xẩy ra cho những Nietzsche, Holderlin, Bùi Giáng… Và những cas tự tử như của Hemingway, liệu có thể giải thích: một toan tính nhằm tái lập những chuyến du hành vũ trụ: lại viết trở lại?
Khép lại, trở về... Như một nhà phê bình gia ngoại quốc nói: Đọc là treo lửng đời sống, là tạm từ bỏ đời sống thực, buớc vào đời sống tưởng tượng, và độc giả nào mà chẳng hy vọng, khi trở về đời sống thực, mọi chuyện sẽ khá hơn một chút. Gấu tôi đã từng trốn… chiến tranh bằng cách chui vào một rạp xi-nê ở Sài Gòn, với một cảm giác rằng, khi phim hết, mình ra khỏi rạp, và thế là cuộc chiến đã chấm dứt!
Vẫn là lập đi lập lại, cái cảm giác, lần bị mìn tại nhà hàng Mỹ Cảnh, nằm nhà thương Grall vật lộn với cái chết, và mơ màng tưởng tượng, khi mình đứng ở cổng nhà thương Grall, nhìn ra ngoài đời, bước vào Sài Gòn, thì chiến tranh đã hết.
Ông có điều gì truyền cho đám nhóc tập tành viết?
Simenon: Viết được coi như là một nghề, a profession, và tôi không nghĩ, nó là một nghề. Tôi nghĩ, đừng cần là nhà văn; khi có thể làm một điều gì đó, thì nên làm [I think that everyone who does not need to be a writer, who thinks he can do something else, ought to do something else]. Viết không phải là một nghề nhưng là một thiên hướng của sự bất hạnh, writing is not a profession but a vocation of unhappiness. Tôi không hề tin có một thằng cha nghệ sĩ nào mà lại hạnh phúc.
Tại sao?
Bởi vì, thứ nhất, tôi nghĩ, nếu một người đàn ông có cái sự cần thiết, bức xức, để là một nghệ sĩ, if a man has the urge to be an artist, ấy là bởi vì hắn ta cần tìm chính hắn ta, it is because he needs to find himself. Mọi nhà văn cố tìm hắn ta qua những nhân vật của hắn, qua tất cả những gì hắn viết ra.
Hắn ta viết cho hắn ta?
Đúng. Chắc chắn là như thế.
Nói như thế thì ông có ý thức được chuyện, có những độc giả của tiểu thuyết?
Tôi biết, có rất nhiều người đàn ông, có cùng vấn đề như là tôi có, nhiều hoặc ít, cũng căng thẳng như tôi có, nhiều hoặc ít, và những người này sẽ hạnh phúc đọc sách để tìm ra câu trả lời - nếu câu trả lời có thể, biết đâu, tìm thấy được, ở trong sách.
Ngay cả khi tác giả không thể tìm thấy câu trả lời, thì liệu độc giả có hưởng được tí xái, trong khi đọc, và cảm thấy, chính tác giả cũng đang sờ soạng, mò mẫm, tìm tí xái?
Đúng y chang! Hẳn nhiên là như thế! Tôi không nhớ đã từng nói cho ông hay về cảm nghĩ mà tôi có được, cách đây vài năm. Bởi vì xã hội bây giờ không có một tôn giáo mạnh, không có một cái thang xã hội chắc chắn cho các giai cấp, và con nguời thì sợ hãi cơ ngơi, tổ chức lớn mà so với nó, họ chỉ như thứ một thứ sinh vật nhỏ bé, con ong cái kiến như Mít thường càu nhàu, với thường nhân như thế đó, đọc tác phẩm văn học thì cũng giống như dòm lỗ khóa để coi nhà hàng xóm đang làm gì, nghĩ gì - liệu họ cũng có những mặc cảm tự ti, những thú vui hạ cấp, những tật hư thói xấu, những ham muốn, những cám dỗ như mình? Đó chính là điều mà họ tìm kiếm ở trong tác phẩm nghệ thuật. Tôi nghĩ là bây giờ có rất nhiều người cảm thấy bất an, và đang mò mẫm tìm chính họ.Bây giờ có rất ít thứ tác phẩm văn chương như cái kiểu mà Anatole France đã từng viết, thí dụ, và như bạn biết đấy, chúng thì thật là lặng lẽ, thật là lịch sự, thật là an tâm chắc dạ. Ngược lại, điều mà mọi người muốn, bây giờ, là những cuốn sách đa đoan, rắc rối, cố đi vô những góc, những xó, những hang cùng ngõ hẻm ở tận đáy sâu con người. Bạn hiểu tôi định nói gì rồi chứ?
Tôi nghĩ là tôi hiểu. Ông tính nói, không phải bởi vì bây giờ chúng ta nghĩ chúng ta hiểu biết nhiều về tâm lý, nhưng mà bởi vì nhiều độc giả bây giờ cần cái thứ giả tưởng này?
Một người bình thường năm muơi năm trước đây – có rất nhiều vấn đề bây giờ ông ta không hiểu. Năm muơi năm trước đây, ông ta có câu trả lời. Bây giờ không có.
Không thể được, hoàn toàn không thể được, theo tôi. Bởi vì chúng ta sống trong một thời mà nhà văn không bị rào cản và họ tha hồ vẽ vời, trình bầy nhân vật của họ. Bạn có thể vẽ ra một cuộc tình qua một câu chuyện thật dễ thương, 10 tháng đầu tiên của một cặp tình nhân, như trong văn chương đời xửa đời xưa. Rồi bạn có một kiểu thứ nhì của chuyện tình: cặp tình nhân bắt đầu thấy thấm đòn của nhau, và cảm thấy chán, đó là thứ văn chương cuối thế kỷ vừa rồi, và nếu bạn đi tới chút nữa, người đàn ông lúc đó chừng năm chục tuổi, và anh ta cố kiếm ra một cuộc đời thứ nhì, người đàn bà ghen, và bạn còn có thêm những đứa trẻ làm vướng cẳng họ nữa, và đó là kiểu thứ ba. Chúng ta đang ở kiểu thứ ba này. Chúng ta không ngưng lại, khi họ lấy nhau, chán nhau, chúng ta đi tới tận cùng.
Qua cái nối kết liên tục như thế, tôi thường nghe người ta nói về bạo lực trong văn chương hiện đại. Tôi cũng khoái bạo lực, nhưng tôi muốn hỏi, tại sao ông viết về nó?
Chúng ta quen với chuyện, đẩy con người tới giới hạn của họ.
Và bạo lực liên can tới chuyện đó?
Nhiều hoặc ít. Chúng ta không còn nhìn con người theo cái nhìn của triết gia; trong một thời gian dài, con người luôn được quan sát theo cái kiểu có một Ông Trời, và người đàn ông này là ông vua của sáng tạo. Chúng ta hết còn coi người đàn ông này là ông vua của sáng tạo. Chúng ta nhìn người đàn ông hầu như mặt nhìn mặt. Một số độc giả vẫn muốn đọc thứ tiểu thuyết tạo sự an tâm, chúng đem đến cho họ một cái nhìn thoải mái về nhân loại. Chuyện đó hết rồi.
Và nếu độc giả đọc ông, ấy là vì ông làm cho họ hiểu ra được những rắc rối, khó khăn, troubles, của họ? Vai trò của ông là nhìn vào chính mình và-
Đúng vậy. Nhưng không phải chỉ là vấn đề, nghệ sĩ lục lọi họ, mà còn lục lọi người khác, với kinh nghiệm của chính anh ta. Họ viết với lòng thân ái, vì họ cảm thấy người khác thì như họ.
Giả như không có độc giả, ông vẫn viết?
Hẳn nhiên rồi. Khi tôi bắt đầu viết, tôi không hề nghĩ sách của mình bán được. Hay nói rõ hơn, đúng hơn, khi tôi bắt đầu viết thứ văn thương mại - những câu chuyện cho báo chí, và những thứ như vậy - để kiếm tiền sống, tôi không gọi những thứ đó, là viết. Nhưng mỗi buổi tối, tôi viết lăng nhăng, cho chính mình, chẳng hề có ý nghĩ những thứ đó sẽ được đem ra in, xuất bản.
Ông có lẽ là một trong những người có quá nhiều kinh nghiệm viết thứ văn thương mại. Như vậy thì đâu là khác biệt giữa thương mại và không thương mại?
Tôi gọi ‘thương mại’, không chỉ trong văn chương, nhưng còn trong âm nhạc, hội hoạ, và điêu khắc - bất cứ một nghệ thuật – thứ được làm ra cho một thứ công chúng, xuất bản, tuyển tập, như thế đó. Lẽ dĩ nhiên, ngay văn thương mại cũng có thứ bèo, thứ khá hơn bèo. Những cuốn sách của tháng, thí dụ; tuy nhiên, thứ này, cũng có những tác phẩm được làm tới nơi tới chốn, chẳng thua gì tác phẩm nghệ thuật, thứ bảnh nhất. Không hẳn hoàn toàn như vậy, nhưng cũng xém một tí! Cũng thế, với những tạp chí, có những bài viết thật tuyệt. Nhưng hiếm, cực hiếm, thứ bảnh thật bảnh, ấy là vì, khi nghệ sĩ viết thứ thật bảnh, họ không hề có trong đầu cái ý nghĩ, mình viết cái này ra là để làm hài lòng thằng cha, con mẹ độc giả nào!
Nếu chỉ nhìn từ phiá bên ngoài, từ phía độc giả của ông, làm sao họ nhìn ra sự khác biệt, giữa thương mại và phi thương mại?
Có khác biệt lớn: nhượng bộ. Khi viết vì bất cứ mục đích thương mại nào, là luôn luôn có nhượng bộ.
Nhượng bộ, chiều theo ý nghĩ, đời mà, đời thì có trật tự, có người này người khác, có sự ngọt ngào, thí dụ vậy?
Và, còn quan điểm về đạo đức nữa. Có lẽ đó mới là điều thật quan trọng. Bạn không thể viết bất cứ một tác phẩm thương mại nào mà không phải chấp nhận một mẫu mã, một qui luật nào đó. Luôn luôn có mẫu mã, code – như mẫu mã ở Holywood, và ở truyền hình, phát thanh. Thí dụ, hiện đang có một chương trình TV rất tốt, và có thể nói, số 1 về kịch. Hai màn đầu khỏi chê, vì luôn là bảnh nhất trong những thứ bảnh nhất. Bạn có cảm tưởng có một điều gì thật mới, thật mạnh, và đến đoạn chót, thì sự nhượng bộ xẩy ra. Luôn luôn không phải là một cái kết thúc hạnh phúc, cái hậu đẹp, nhưng mà là một điều gì đó xẩy ra, để hòa giải, giao lưu mọi điều mọi chuyện, từ quan điểm của một thứ đạo đức, một thứ triết học – như bạn biết đấy. Tất cả những nhân vật, đóng thật tuyệt vai trò của họ, cho tới phút đó, bỗng xìu xuống, vào đúng 10 phút chót!
Trong tác phẩm phi thương mại, ông cảm thấy không cần phải nhân nhượng, bất cứ thứ gì?
Tôi không bao giờ làm điều đó. Không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ. Nếu không thế, viết làm cái chó gì! Đau lắm, nếu không làm được như thế, đến tận cùng.
Ui chao, cái đoạn song đấu giữa Gide và Simenon, dưới đây, làm Gấu nhớ tới thầy Steiner, cũng mê Simenon như điên. Và Gấu hiểu ra, cả hai Steiner, và Gide, đều không có, điều mà Simenon dư dả: sự sáng tạo!
Có lần ông nói Gide đã từng gợi ý cho một trong những cuốn tiểu thuyết của ông, và cú đó thật đắc dụng. Ông ta có ảnh hưởng đến tác phẩm của ông, theo một kiểu đại trà nào đó.
Chắc không có chuyện đó đâu. Nhưng chuyện xẩy ra với Gide tức cuời lắm. Vào năm 1935, nhà xb của tôi cho biết ông ta có tổ chức một bữa tiệc cốc tay, và tôi có thể tới lèm bèm với ông ta, bởi vì ông ta nói, ông ta đọc tôi khá nhiều, và muốn gặp. Tới, Gide quần tôi trên hai tiếng đồng hồ. Sau đó, trở thành bạn quí của nhau. Tháng nào cũng thư gửi bạn ta. Quần bạn ta tới khi ông ta chết. Tới nhà ông, tôi thấy những cuốn sách của tôi, được bạn quí ghi chú tùm lum, khiến tôi nghĩ, chúng là của Gide hơn là của Simenon. Tôi chẳng bao giờ hỏi Gide về chuyện này. Thì cũng thẹn chứ! Làm sao không!
Ông ta có những câu hỏi nào ‘quái’ không?
Hỏi đủ thứ trên đời. Nhưng đặc biệt là về ‘cơ chế’, của cái gọi là ý hướng - cho phép tôi dùng từ - sự sáng tạo, của tôi. Và tôi nghĩ, tôi hiểu ra tại sao ông quan tâm đến tôi. Tôi nghĩ, cả đời Gide mơ trở thành một tay sáng tác, thay vì là nhà đạo đức, triết gia. Tôi đúng là thứ đối nghịch hẳn với ông ta. Chính vì thế mà ông quan tâm tới tôi.
Hai năm sau tôi gặp một trường hợp y chang, với một tay bá tước. Ông ta viết cho tôi y chang Gide viết. Mời tới lâu đài thăm. Tới ,bá tước quần “Simenon nhà văn” ba ngày ba đêm lử cò bự. Ông tới
Ông gọi tôi là thằng ngu thiên tài!
*




Comments
Post a Comment