Thơ Giữa Chiến Tranh và Trại Tù
Khi VC lập Trại Tù, chúng tính làm cỏ Ngụy, theo nghĩa Nazi lập Lò Thiêu, với mỹ ý, khai hóa chúng, cho chúng có dịp trở lại làm người bằng nền văn minh Sồng Hồng.
Nhưng, như 1 phép lạ, Ngụy trở lại làm người theo nghĩa tâm linh, theo ý của câu thơ của Holderlin, mà Camus rất mê, "Ở nơi có hiểm nguy ở đó có cứu rỗi".
TTT nhờ đi tù, làm thơ trở lại, đúng dòng thơ "Requiem" của Akhmatova.
Trại Tù còn lọc ra 1 kinh nghiệm mà Solzhenitsyn nhắc tới, G đã từng lập lại, khi đọc thơ Hoàng Hưng: Ai đã từng ở đó, là suốt đời không quên nổi. Điều này phân biệt, giữa những người lưu vong trước 1975, và, sau đó.
****
Requiem" needs little introduction; it speaks for itself. It
belongs to a select number of sacred texts which, like American
Indian dream-poems but for more sinister reasons, were
considered too momentous, too truthful, to write down. From
1935-40, the period of its composition, to 1957, it is said to
have survived only in the memories of the poet and a few of
her most trusted friends. It was first published in 1963,
'without the author's knowledge or consent', by the Society
of Russian Emigre Writers, from a copy which had found
its way to the West.
Faced with the events of the Stalinist Terror—the most
monstrous epoch in human history, as Joseph Brodsky has
called it—only the bravest and most complete artists can
respond with anything but silence. For those few who can
speak about such things, only two ways of dealing with the
horror seem possible: through a relentless piling-on of detail,
as Solzhenitsyn has done in Gulag Archipelago; or through the
intensity of understatement. The latter is "Requiem's" way. In
telling us about one woman, standing in the endless queue
outside a Leningrad prison, month after month, hoping to
hand in a parcel or hear some news of her son, Akhmatova
speaks for all Russia. She achieves universality, through an
exquisiteness of style that is at the same time anonymous and
transparent—the voice of 'the orphans, the widows', in
Chukovsky's prophetic phrase of 1921. "Requiem" honours
poetry, as well as the dead.
D.M. Thomas: "Introduction"
"Requiem" không cần giới thiệu nhiều; nó tự nói lên tất cả. Đó là tuyển tập các văn bản thiêng liêng mà, giống như những bài thơ giấc mơ của người Mỹ bản địa nhưng vì những lý do nham hiểm khác, được coi là quá thoáng qua, quá chân thực để ghi chép lại. Từ năm 1935 đến năm 1940, giai đoạn sáng tác, cho đến năm 1957, người ta nói rằng nó chỉ còn tồn tại trong ký ức của nhà thơ và như một nguồn tư liệu cho những người bạn thân thiết nhất của ông. Nó được xuất bản lần đầu vào năm 1963; "mà không có sự biết hoặc đồng ý của tác giả," bởi Hội Nhà văn Nga di cư, từ một bản sao đã đến được phương Tây.
Đối mặt với các sự kiện khủng bố của Stalin - sự kiện lớn nhất trong lịch sử loài người, như Joseph Brodsky đã gọi - chỉ những nghệ sĩ xuất sắc và hoàn thiện nhất mới đáp lại bằng điều gì đó ngoài sự im lặng. Đối với những người không thể nói nhiều về điều đó, dường như chỉ có hai cách để đối phó với nỗi kinh hoàng: thông qua việc trích dẫn nhẹ nhàng các chi tiết, như Solzhenitsyn đã làm trong Quần đảo Gulag; hoặc thông qua cường độ của sự nói giảm nói tránh. Đó chính là cách tiếp cận của "Requiem". Khi kể về câu chuyện của một người phụ nữ, đứng xếp hàng dài vô tận tại nhà tù Leningrad, tháng này qua tháng khác, hy vọng được nhận một bưu kiện hoặc nghe tin tức về con trai mình, Akhmatova đã nói lên tiếng lòng của cả nước Nga. Bà đã khám phá tính phổ quát thông qua một phong cách tinh tế, vừa ẩn danh vừa trong suốt – tiếng nói của "những đứa trẻ mồ côi, những bóng ma", theo cách nói tiên tri của Chukovsky năm 1921. "Requiem" tôn vinh thơ ca, cũng như những người đã khuất.
2
Gently flows the gentle Don,
Yellow moonlight leaps the sill,
Leaps the sill and stops aston-
ished as it sees the shade
Of a woman lying ill,
Of a woman stretched alone.
Son in irons and husband clay.
Pray. Pray.
3
No, it is not I, it is someone else who is suffering.
I could not have borne it. And this thing which has
happened,
Let them cover it with black cloths,
And take away the lanterns . . .
Night.
2
Dòng sông Don hiền hòa chảy,
Ánh trăng vàng nhảy qua ngưỡng cửa;
Nhảy qua ngưỡng cửa và dừng lại, kinh ngạc khi nhìn thấy bóng dáng
Một người phụ nữ nằm bệnh,
Một người phụ nữ nằm một mình.
Con trai bị xiềng xích, chồng nằm trong lòng đất.
Cầu nguyện. Cầu nguyện.
3
Không, không phải tôi, người khác đang đau khổ.
Tôi làm sao chịu đựng nổi . Điều xảy ra,
Hãy để họ che bằng vải đen,
Và lấy đi những chiếc đèn lồng.
Đêm, rồi.
****
"Trong tôi còn lại chi? Gia đình, bạn bè. Những bài thơ, chắc chắn rồi. Chúng đã được đọc, được thầm ghi lại (intériorisés). Đúng một lúc nào đó, ký ức nhanh chóng bật dậy, đọc, cho riêng mình tôi, những bài thơ. Luôn luôn, ở đó, bạn sẽ gặp những tia sáng lạ. Thời gian của điêu tàn làm mạnh thơ ca.
Đẫm mình trong thời gian "không lịch sử", hay đúng hơn, lịch sử ở bên ngoài, người ta khám phá ra rằng, những ngày, những tháng đều không phương hướng, không mục đích, trần trụi. Tuyệt đối trần trụi. Sự không hiện hữu (inexistence) của cuộc sống đem đến sự bình an ở bên trong. Cõi thơ êm đềm ngự trị ở bên trên sự bình thản của vũ trụ. Từ đó, mỗi bài thơ là một thời gian khép kín, tách ra khỏi chuyển động của cuộc sống. Thời gian bất thần, của nỗi kinh hoàng, trở thành thời gian cô đọng; chẳng có chi khác biệt, giữa kìm hãm, và bay bổng.
Và làm thơ trong trại cải tạo, đó cũng là trở về với thơ ca bình dân. Chế độ lao động trong trại, đó là một ngày căng thẳng tám tiếng, không có cuối tuần; mỗi tù nhân có riêng một vũ trụ của anh ta: một cái chiếu, chừng năm, sáu chục tù nhân trên dưới hai lớp, trong tấm "toan" trên trăm tù. Viết là một xa xỉ: chỗ ngồi, thời gian viết. Với nhịp tù hối hả như thế, cái lạnh, cái đói... ai dám nghĩ đến sáng tạo? Ngay cả thiên tài, ngay một sức mạnh siêu nhiên cũng chẳng thể vượt qua, những "trói buộc" này. Tuy nhiên, người Việt nói "làm thơ", không ai nói "viết thơ". Như vậy, người ta có thể làm thơ bất cứ ở đâu, trong bất cứ vị trí nào: đi, đứng, nằm, ngồi, thức... Thơ gặp anh không cần hò hẹn, không định rõ ngày giờ. Người ta không thể kiếm nó, vì biết đâu mà kiếm. Bạn chỉ có một việc: tiếp nhận nó, bàn bạc cùng nó. Nó chỉ yêu cầu bạn: hãy giữ tiếng nói chơn chất của bạn. Tiếng nói này, sau đó, sẽ quyết định cuộc đời của riêng nó. Nó, nàng thơ, luôn luôn kín đáo, đôi khi vào bằng cửa chính, đôi khi bằng con đường nhỏ. Hãy lắng nghe. Nàng thích đeo mặt nạ, ẩn náu dưới tấm khăn che mặt; nếu ký ức của bạn không thức tỉnh, bạn không thể nhận ra nàng. Trong khi lao động "đạt chỉ tiêu cách mạng", nàng tới. Đột nhiên, ngay giữa đồng, giữa rừng... Nàng ra lệnh cho bạn ngừng. Bạn bắt đầu nhìn trời, quên những cử động máy móc. Nàng kéo liền bạn vào cõi trong êm ả. Tình trạng tự động hiện hữu (autoexistence) đem đến nguồn vui. Bởi vì khi nàng thơ rời bạn, khi trở về với cõi đời bạn đã dám rời bỏ; bạn nhận ra cuộc đời này sẽ biến thành nhịp của những câu thơ. Như thể, trong khi làm việc bằng chân tay, tai của bạn đuổi theo những nhịp điệu, âm nhạc của bài thơ. Sự hài hoà này sẽ đem đến điều cần thiết, giữa công việc - vốn hạn định những cử động - và ký ức, đang "ghi nhận, chất chứa".
Nhưng nói một cách cụ thể, khó khăn (làm thơ trong trại cải tạo) vẫn còn. Bởi vì vô phương ghi lại bài thơ; đây là giai đoạn chót của sáng tạo: niềm vui đọc lớn nó lên, và chia sẻ với những người thân cận. Thơ phải được đọc lên, phải được nghe, như đây là định mệnh cuối cùng của nó. Định mệnh của một tiếng nói và cũng là định mệnh của hồi nhớ, của biết bao nhiêu con người.
TTT: "Thơ giữa chiến tranh và Trại Tù."
Khi VC lập Trại Tù, chúng tính làm cỏ Ngụy, theo nghĩa Nazi lập Lò Thiêu, với mỹ ý, khai hóa chúng, cho chúng có dịp trở lại làm người bằng nền văn minh Sồng Hồng.
Nhưng, như 1 phép lạ, Ngụy trở lại làm người theo nghĩa tâm linh, theo ý của câu thơ của Holderlin, mà Camus rất mê, "Ở nơi có hiểm nguy ở đó có cứu rỗi".
TTT nhờ đi tù, làm thơ trở lại, đúng dòng thơ "Requiem" của Akhmatova.
Trại Tù còn lọc ra 1 kinh nghiệm mà Solzhenitsyn nhắc tới, G đã từng lập lại, khi đọc thơ Hoàng Hưng: Ai đã từng ở đó, là suốt đời không quên nổi. Điều này phân biệt, giữa những người lưu vong trước 1975, và, sau đó.

Comments
Post a Comment